Latest Post

Kỹ năng tổ chức trò chơi tập thể

           Hoạt động tập thể trong sinh hoạt Đoàn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hoạt động này giúp cho sinh hoạt Đoàn có những ý nghĩa. Trong các buổi sinh hoạt tập thể nó giúp cho liên kết các sinh viên với nhau. Dưới đây là một số kĩ năng tổ chức trò chơi
1. Quản trò là người quan trọng nhất:
Nội dung trò chơi hay người chơi tham gia nhiệt tình nhưng quản trò không biết cách tổ chức trò chơi thì cuộc vui chơi tập thể sẽ kém phần hấp dẫn và khó thành công. Vì vậy rèn luyện kỹ năng quản trò là một vấn đề hết sức quan trọng đối với người cán bộ thanh niên ở cơ sở.
1.2. Biết cách sử dụng trò chơi đúng đối tượng và hợp với trò chơi:
Khi chuẩn bị cuộc chơi, quản trò phải quan sát trạng thái tâm lý, niềm say mê nhiệt tình của người chơi, từ đó lựa chon những trò chơi cho phù hợp. Hãy chọn những trò chơi đơn giản mà mọi người đều có thể dễ dàng thực hiện. Khi người chơi đã nhập cuộc thì tiếp tục đưa vào những trò chơi đòi hỏi cao hơn, phức tạp hơn. Cũng cần có những trò chơi hay dành cho phần kết thúc để người chơi có cảm giác "thòm thèm" muốn chơi nữa.
1.3. Bắt đầu cuộc chơi một cách dí dỏm, hài hước, hấp dẫn:
Điều kiện để cuộc chơi thành công là người chơi muốn chơi, nắm vững luật chơi, tự nguyện, nhiệt tình chủ động tham gia trò chơi. Vì vậy, trước hết cần dùng những lời nói ngắn gọn, hài hước, dí dỏm giới thiệu tên trò chơi, mục đích ý nghĩa của nó. Tiếp theo cần nêu rõ cách chơi và những "luật lệ” cần tuân thủ. Sau cùng là nêu trước ý định sẽ thưởng phạt những ai chơi tốt hay phạm luật.
Cần cho mọi người chơi thử một lần: "chơi nháp", sau đó tiến hành chơi thật và cử trọng tài bắt lỗi những ai phạm luật.
1.4. Biết điều hành trò chơi một cách linh họat, thông minh:
Dự kiến những tình huống bất trắc và xử lý tình huống một cách hợp lý.
Quản trò phải di chuyển sao cho có thể quan sát được toàn bộ cuộc chơi, nhanh chóng phát hiện ra những người lanh lợi, hoạt bát, dí dỏm làm nòng cốt cho cuộc chơi.
Nghiêm túc tuân thủ luật chơi đảm bảo thực sự công bằng, bình đẳng, song vẫn vui vẻ, thoải mái và hào hứng.
Cuộc chơi bắt đầu từ những trò chơi đơn giản nhất và phức tạp lên dần. Biết dùng những trò chơi phụ làm "hình phạt" tạo điều kiện cho mọi người được thư giãn và biết chấm dứt cuộc chơi đúng thời điểm (tốt nhất là vào lúc cao điểm) hay đã phân định thắng thua rõ ràng. Cố gắng duy trì một bầu không khí hoàn toàn thoải mái, thư giãn thật sự, không kể gì thắng hay thua.
1.5. Biết cách luyện tập tác phong phù hợp trong khi điều khiển trò chơi:       
Dáng điệu, cử chỉ của người quản trò phải gây được thiện cảm, tạo sự chú ý ban đầu, tạo nên sự gần gũi thân quen trong suốt cuộc chơi.
Tâm hồn trong sáng cởi mở toàn tâm toàn ý cho cuộc vui chung. Biết hành động, biết nói sao cho đúng lúc, đúng đối tượng, biết khích lệ tán dương sự cố gắng của mọi người nhằm bảo đảm hiệu quả giáo dục sâu sắc trong cuộc chơi.
Có bản lĩnh vững vàng, ứng xử nhanh nhẹn không cáu gắt, la mắng và sẵn sàng nhường "diễn đàn" cho những quản trò khác mà không mặc cảm.
Biết cách sẵn sàng thay đổi trò chơi theo yêu cầu của người chơi, nhanh chóng phát hiện và chỉ định quản trò cho phù hợp với từng trò chơi.
1.6. Biết tích lũy kiến thức và kinh nghiệm, thực sự cầu thị:
Qua quan sát những quản trò khác, người chơi trong cuộc rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho bản thân về vốn trò chơi, kỹ năng tổ chức chơi và phong cách của người quản trò. Đồng thời chú ý lắng nghe ý kiến nhận xét quan sát thái độ của người chơi để điều chỉnh những gì chưa hợp lí.
Quản trò cần thuộc và hát đúng một số những bài hát cộng đồng (đơn giản, dễ nhớ, dễ hát), để phục vụ cho trò chơi.
Nên cần có cuốn sổ để sưu tầm, sáng tác trò chơi, những bài hát cộng đồng và những băng reo trong sinh họat tập thể.
1.7. Mạnh dạn, tự tin, khiêm tốn:
Khi có cơ hội phải mạnh dạn tham gia các cuộc chơi khác nhau, là người chơi tích cực, hăng hái, nhiệt tình trong các cuộc chơi. Phải xuất hiện đúng lúc, mạnh dạn thực hiện vai trò của mình một cách tự tin, gây ấn tượng, tránh đứng ngoài cuộc bình phẩm, chê bai người khác.
1.8. Những điều nên tránh:
- Đưa ra trò chơi không phù hợp với tâm trạng mọi người, người chơi chưa nắm vững luật chơi, chưa có sự chuẩn bị chu đáo.
- Những trò chơi xúc phạm đến nhân cách của người chơi, những trò chơi thiếu văn hóa, thiếu tính giáo dục.
- Dùng hình phạt thô bạo hay kéo dài thời gian phạt đối với người phạm luật hay người thua, dễ gây nhàm chán.
- Dáng vẻ quá đạo mạo, nghiêm nghị khi điều hành như là trọng tài của cuộc thi đấu thể thao.
- Thiên vị hoặc quá dễ dãi bỏ qua hình phạt đối với người phạm luật, người thua.
- Kéo dài những động tác thừa làm cho người chơi cảm thấy mệt mỏi, khó chịu.
- Tự ái nóng nảy bỏ dở cuộc chơi khi bị xúc phạm hay bị người chơi chê trách.
2. Làm thế nào để có nhiều trò chơi?
2.1. Sưu tầm trò chơi:
Mỗi cán bộ Đoàn, hội nên có bộ sưu tập trò chơi theo thể loại: Trò chơi dân gian, trò chơi sinh họat tập thể và trò chơi thể thao từ các nguồn sau:
- Các trò chơi đã được in thành sách.
- Các trò chơi đã được in trong các báo chí và giới thiệu trên truyền hình.
- Các trò chơi trong sinh họat cộng đồng mà bản thân được tham dự, được quan sát, sau đó ghi chép lại.
- Các trò chơi được người khác phổ biến lại.
Tổ chức thi sưu tầm và điều khiển trò chơi: thông qua các cuộc sinh họat cộng đồng, các lớp tập huấn cán bộ đoàn, hội có thể tổ chức cuộc thi sưu tầm và điều khiển trò chơi phục vụ cho từng chủ đề nhất định. Sau đó chọn lọc biên tập lại, nếu có điều kiện thì tổ chức chơi mà mỗi trò chơi đều được người sưu tầm đứng ra làm quản trò.
2.2. Sáng tác trò chơi:
Tổ chức thi sáng tác trò chơi: Bằng phương pháp đã nêu trên có thể tổ chức cuộc thi sáng tác trò chơi trong cán bộ, đoàn viên, hội viên theo các hướng sau:
- Sáng tác trò chơi phục vụ cho từng đối tượng: Thiếu niên, nhi đồng, thanh niên nông thôn, thanh niên quân đội, đối với thanh niên trường học nên chú ý thanh niên PTTH, trung học dạy nghề, sinh viên.
- Sáng tác trò chơi theo chủ đề gắn với các ngày lễ lớn trong năm, gắn với các vấn đề dân số, sức khỏe, môi trường và sinh họat hàng ngày của các bạn trẻ.
- Sáng tác trò chơi phục vụ cho từng loại hình sinh hoạt như: Cắm trại, dã ngoại, CLB ngoại ngữ, CLB toán, CLB thơ,..
- Mỗi trò chơi khi sáng tác cần tuân thủ những qui định chặt chẽ: Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của trò chơi, đối tượng, số lượng người chơi, luật chơi và cách tổ chức.
- Sau mỗi cuộc thi cần biên tập lại, bổ sung, sửa đổi và phổ biến cho mọi người thông qua chơi thử. Những trò chơi nào đạt yêu cầu cần đưa ngay vào bộ sưu tập.
- Từ một trò chơi đã có, thiết lập nguyên tắc đưa ra nhiều trò chơi khác tương tự: trên thực tế có những trò chơi hay có thể phát triển thành nhiều trò chơi khác (là hệ quả của nó) mà người chơi không cảm thấy bị trùng lặp. Bí quyết chính là ở chỗ tìm thấy nguyên tắc của nó rồi dựa vào từng hoàn cảnh, từng đối tượng cụ thể để hình thành các trò chơi khác.
2.3. Sưu tập các mẩu chuyện vui, các câu đố:
Những mẩu chuyện vui, các loại câu đố dân gian hàng ngày là kho tư liệu quý cho chúng ta trong điều hành cuộc chơi. Người quản trò nhất thiết phải có vốn đó để sử dụng khi cần thiết như làm thư giãn cuộc chơi, hay chuyển sang trò chơi trí tuệ (đố vui) hoặc trò chơi mang tính vui chơi giải trí (thi kể chuyện vui) v.v...
Ngoài những phương pháp trên có thể tận dụng mọi điều kiện, mọi lúc để ghi chép những kinh nghiệm, tư liệu của người khác mà mình bất chợt gặp hay những ý nghĩ xuất hiện trong đầu.
Nếu quan tâm thường xuyên đến những vấn đề trên bạn sẽ trở thành người quản trò "giàu có" - một hành trang không thể thiếu được của người cán bộ Đoàn, hội hôm nay.
3. Cách xử lý các tình huống bất trắc:
Điều khiển trò chơi cần phải có nghệ thuật. Nghệ thuật đó đòi hỏi ở khả năng xử lý tình huống thường diễn ra trong các cuộc chơi. Xin giới thiệu một vài kinh nghiệm xử lý các tình huống thường gặp.
3.1. Bắt đầu cuộc chơi tập thể mất trật tự, thiếu tập trung chú ý: tình huống này thường gặp ngay cả trong các buổi sinh họat, hội họp của Đoàn, hội. Để tạo sự chú ý ban đầu, quản trò có thể:
- Thực hiện một số băng reo, "tràng pháo tay", "mưa rơi", "vỗ tay theo qui ước",...
- Điếu khiển một trò chơi thông qua bài hát cộng đồng mà mọi người đều thuộc.
- Dùng còi hay tiếng vỗ tay (tạo tiếng vỗ khác thường) để tập trung chú ý, sau đó thực hiện một vài trò chơi đơn giản.
- Sử dụng một vài "hình phạt vui" để buộc những người khác phải cố gắng để không phạm luật.
- Sử dụng nhóm "thành viên tích cực" (ngay từ đầu đã trật tự chăm chú lắng nghe) làm nòng cốt cho một trò chơi đơn giản. Khi đó những người khác buộc phải dừng các "việc riêng" khác, "tò mò" quan sát, sau đó sẽ tự nguyện nhập cuộc.
- Hát ngay một bài hát (không cần giới thiệu) rất tự nhiên và tỏ vẻ say sưa, từ đó tạo ra sự chú ý cho mọi người...
3.2. Không khí nặng nề trầm lắng, người chơi rụt rè, thiếu mạnh dạn: nếu thực hiện ngay trò chơi sẽ dễ dàng thất bại.
- Nên bắt đầu bằng một "trò ảo thuật" hoặc kể một câu chuyện tiếu lâm.
- Tiếp đó thực hiện một số trò chơi tương ứng.
- Tăng dần liều lượng những trò chơi mang tính chất thi đua giữa các nhóm. Khi các nhóm đã vào cuộc để giành thắng lợi là bạn đã thành công.
3.3. Người chơi nhiệt tình nhưng có sự ganh đua mãnh liệt giữa các nhóm: đây là điều thường xảy ra, nếu như quản trò không có biện pháp xử lý thỏa đáng thì cuộc chơi có thể mất hết ý nghĩa.
- Trước hết quản trò phải nhanh chóng phát hiện nguyên nhân. Thông thường là do luật chơi không chặt chẽ, quản trò thưởng phạt không công minh, người chơi khích bác chê bai nhau. v.v...
- Sau khi phát hiện đúng nguyên nhân, quản trò công khai tuyên bố trước mọi người, rồi mới tiếp tục trò cũ hoặc chuyển sang trò mới và bắt đầu bằng những quy ước chặt chẽ, kín kẽ hơn.
- Khi chia nhóm chơi nên cử trưởng nhóm và chọn một số trọng tài "công minh" không nằm trong các nhóm chơi.
- Linh hoạt thay đổi trò chơi hay phương pháp điều khiển để tạo điều kiện cho nhóm nào cũng có thể thắng cuộc.
- Khi cuộc chơi ở mức cao trào, có thể chuyển sang các hình thức khác tạo sự hòa hợp giữa các nhóm.
3.4. Người chơi mệt mỏi và bắt đầu tỏ vẻ chán chường:
Có nhiều nguyên nhân như: trò chơi quá khó, cuộc chơi quá dài hay luật chơi bắt mọi người phải lặp đi lặp lại nhiều động tác đứng lên, ngồi xuống, chạy, đổi vị trí...; trò chơi đơn điệu không hấp dẫn hoặc không phù hợp. Từ những nguyên nhân cụ thể mà quản trò lựa chọn biện pháp xử lý thích hợp. Nhưng nói chung có thể chọn một trò chơi thật nhẹ nhàng hấp dẫn hay một bài hát tập thể để chấm dứt cuộc chơi. Cũng có thể chuyển sang thực hiện những trò chơi trí tuệ như "Đố vui có thưởng", "Hát đối", hoặc "Kể chuyện vui".
3.5. Không khí trầm lắng thiếu sôi nổi:
Đây cũng là tình huống thường gặp trong các buổi họp mặt hay trên đường đi tham quan, dã ngoại. Trong trường hợp này nên sử dụng một số loại trò chơi như: "nối từ" (chia nhóm,, nhóm này nêu ra một từ, nhóm kia tìm từ khác nối vào sao cho hai từ đó có ý nghĩa, cứ vậy cho đến khi nhóm nào không tìm được thì thua. Ví dụ: màu xanh - xanh tươi - mát mẻ - mẻ chua -chua ngoa - ngoa ngoắt -...), "hát liên khúc", "hát nối", "đố vui", thi kể chuyện tiếu lâm,...
3.6. Người chơi đề nghị thực hiện những trò chơi ngoài dự kiến:
Trong trường hợp này người quản trò nhanh chóng khéo léo thực hiện đề nghị đó, xem như đó cũng là trò chơi được dự định từ trước (nếu quản trò hiểu rõ những trò chơi đó). Cũng có thể khéo léo giới thiệu ngay người đề nghị điều khiển trò chơi tập thể, khi đó mình đóng vai "quản trò phụ".
3.7. Chỉ định ai làm gì nhưng họ không thực hiện: muốn thoát khỏi tình huống khó khăn này có ba cách sau:
- Thứ nhất, phát cho mỗi người một mẩu giấy trắng nhỏ. Người chơi với sự quen biết của mình trong tập thể sẽ ghi vào giấy của mình đề nghị ai đó làm một việc gì hợp với khả năng của họ. Quản trò thu lại và đọc từng mẩu giấy.
- Thứ hai, dùng những trò chơi nhỏ để bắt lỗi. Những người bị phạm luật sẽ là những người buộc phải thực hiện một yêu cầu hợp lý của quản trò.
- Thứ ba, quản trò chuẩn bị một số mẩu giấy trong đó ghi rõ yêu cầu phổ thông nhất: hát, kể chuyện, đọc thơ, cười, khóc... Sau đó chọn một trong các mẩu giấy gài vào một bông hoa. Cả tập thể hát một bài và bông hoa được chuyển từ người này sang người khác. Khi bài hát kết thúc, bông hoa ở trên tay ai thì người đó sẽ mở mẩu giấy đọc to cho mọi người biết và thực hiện yêu cầu ghi trên mảnh giấy đó.
3.8. Những người phạm lỗi không muốn thực hiện hình phạt của cuộc chơi:
Trong trường hợp này có thể vì hình phạt ngoài khả năng của người phạm lỗi, cũng có thể vì nhút nhát không dám thực hiện hoặc do quản trò không nghiêm minh phạt những người phạm lỗi trước đó. Vì vậy trước hết quản trò chọn những hình phạt dễ thực hiện, chọn những trò chơi phụ để phạt như: "phỏng vấn", "tìm người yêu", "tìm người chỉ huy" v.v...Nếu người phạm lỗi quá nhút nhát, có thể tiếp tục trò chơi khác để bắt lỗi tập thể và dùng hình phạt chung cho tập thể những người phạm lỗi, khi đó mọi người sẽ mạnh dạn thêm lên.
Ngoài 8 tình huống thường gặp nêu trên còn có nhiều tình huống khác cần xử lý kịp thời. Bí quyết thành công là ở chỗ người quản trò nắm vững tâm lí, nhu cầu của người chơi, thường xuyên rèn luyện kỹ năng quản trò và thu thập, phân loại các trò chơi, thực sự "ham chơi" khi cần thiết.
 Theo www.thanhdoan.cantho.gov.vn


Một số tình huống sư phạm

Xin gửi đến các thầy cô một số tình huống sư phạm, mong được các thầy cô tham khảo và trao đổi ý kiến làm sáng tỏ thêm. Hy vọng rằng sẽ giúp được cho mỗi chúng ta một chút gì đó trong nghề nghiệp của mình.
Tình huống 1: Một giáo viên mới ra trường đã giải sai 01 bài toán nên dù học sinh đã làm đúng, cô giáo buộc các em làm lại bài sửa theo cô. Sự việc xảy ra đã lâu nhưng không thấy có phản ứng gì từ phía phụ huynh và học sinh. Khi biết chuyện, một số giáo viên già dặn hơn khuyên cô giáo trẻ hãy coi đây là “sự cố nghề nghiệp” cần rút kinh nghiệm chứ không nên “bươi” lại sự việc sẽ làm ảnh hưởng đến nghề nghiệp tương lai của mình. Bạn đồng ý với cách xử lý của đồng nghiệp hay có cách xử lý khác tế nhị, hay hơn?
Gợi ý: - Giáo dục là một khoa học, hơn nữa môn Toán là môn khoa học với độ chính xác tuyệt đối, nên không thể chấp nhận sự sai số, nếu hiện tại chưa thấy chỗ sai thì đến lúc nào đó mọi người sẽ thấy chỗ sai, và, như vậy sẽ càng làm giảm sút uy tín người giáo viên.
- Giáo viên không phải là người không thể có sai sót, điều quan trọng là nhận ra sai sót và điều chỉnh để hướng đến sự hoàn thiện, hoàn mỹ hơn. Vì vậy, giáo viên nên sẵn sàng nhận sai sót của mình trước học sinh và phụ huynh và điều chỉnh lại. Điều đó, sẽ không làm giảm mà ngược lại sẽ làm tăng thêm sự tín nhiệm của phụ huynh và học sinh.
Tình huống 2: Một đồng nghiệp có việc bận đột xuất đã điện thoại nhờ bạn dạy thay giúp một buổi, bạn đã vui vẻ nhận lời và hoàn thành buổi dạy một cách hoàn mỹ. Nhưng sau đó, hiệu trưởng biết được và đã gọi bạn và đồng nghiệp lên kiểm điểm, khiển trách một cách nghiêm khắc, yêu cầu không được tái phạm. Đồng nghiệp của bạn rất ấm ức, cho rằng hiệu trưởng quá nguyên tắc và máy móc, thời đại này cần quản lý “thoáng” một chút thì người dưới quyền sẽ thoải mái và tự giác làm việc có hiệu quả hơn. Còn bạn? Bạn có phản ứng như thế nào?
Gợi ý: - “Kỷ luật là tự giác”, người tuân thủ kỷ luật là người tự giác và thoải mái nhất. Hiệu trưởng đã thực thi hoàn toàn đúng chức năng quản lý của mình, nếu không, cả trường sẽ ngày càng không còn tuân thủ theo một kỷ luật, nguyên tắc nào nữa. Giá như, người đồng nghiệp đã báo cáo hiệu trưởng xin phép và trình bày rõ việc dàn xếp lớp thì mọi việc thật tốt đẹp.
- Người đồng nghiệp có thái độ phản ứng như vậy là chủ quan, không đúng, vì rằng dù không bỏ lớp, vẫn có thể coi là đã hoàn thành nhiệm vụ được giao nhưng vi phạm nguyên tắc trong thực hiện nhiệm vụ. Bản thân người dạy thay không nên có phản ứng gì ngoài việc nhận khuyết điểm (cùng vi phạm nguyên tắc) và hứa khắc phục, đồng thời sẽ có lời khuyên nhủ đồng nghiệp.
Tình huống 3: Phòng bên cạnh lớp dạy của bạn là lớp dạy của một cô giáo lớn tuổi, có thâm niên và kinh nghiệm trong nghề. Cô giáo ấy rất nghiêm khắc, thậm chí hay la đánh học sinh và  quản lý lớp rất trật tự, yên lặng. Trong khi đó, bạn quản lý lớp thân thiện, thoải mái hơn, trong giờ dạy thường tổ chức cho học sinh hoạt động nên lớp ồn ào. Mặc dù bạn không đồng ý với phương pháp giáo dục, quản lý lớp của cô giáo ấy nhưng chưa có dịp góp ý. Ngược lại đã nhiều lần cô giáo ấy than phiền với bạn, thậm chí đã phản ánh lên hiệu trưởng, hiệu trưởng cũng đã gọi bạn lên nhắc nhở .
            Trong tình huống như vậy, bạn hãy tìm cách xử lý thật tế nhị để không làm cô giáo kia phật lòng hay bị xúc phạm, còn hiệu trưởng thì hiểu được và phát huy phương pháp giáo dục mới của bạn.?
Gợi ý: - Trước hết không nên phân bua, bào chữa gì với hiệu trưởng mà khéo léo trao đổi với hiệu trường là mình đang thể nghiệm phương pháp mới và hứa sẽ cố gắng không để lớp hoạt động quá ồn ảnh hưởng đến lớp khác. Đối với cô giáo kia phải giữ thái độ tôn trọng, thân mật và hứa sẽ cố gắng không để lớp ồn ào làm ảnh hưởng đến lớp của cô. Mặc khác, cần kiểm tra lại phương pháp, cách thức dạy học và quản lý lớp của mình để hoàn thiện những điểm chưa tốt, chưa hay, hạn chế sự sôi nổi, ồn ào quá mức làm ảnh hưởng đến lớp khác.
- Tiếp tục khẳng định mình qua việc đổi mới phương pháp dạy học trong thực tế dạy học và nâng cao chất lượng của lớp đến các hoạt động chuyên môn của trường; mặt khác tìm cơ hội trao đổi chuyên môn một cách khéo léo, chân tình với cô giáo ấy. Điều quan trọng là không chán nản, bi quan mà tin tưởng chờ đợi kết quả nhìn nhận mới của tập thể đối với mình.
Tình huống 4: Sáng nay khi vào lớp, cô giáo đã phát hiện một học sinh của lớp có vẻ mặt mệt mỏi, uể oải, biết rằng em có biểu hiện bất thường về tâm sinh lý. Tuy nhiên, được báo sáng nay có thanh tra đến thanh tra hoạt động sư phạm nhà giáo nên cô giáo tập trung chuẩn bị; thực hiện tiết dạy cho thanh tra dự giờ; nộp hồ sơ sổ sách cho thanh tra kiểm tra; tổ chức cho thanh tra khảo sát chất lượng học sinh rồi nghe thanh tra nhận xét, đánh giá, góp ý về chuyên môn… Đến khi xong việc thì em học sinh kia bị ngất xỉu phải đưa đi viện cấp cứu.
             Theo bạn, cô giáo có lỗi trong việc này hay không? Nếu là bạn, bạn có cách xử lý nào khác?
Gợi ý: - Thanh tra là việc quan trọng nhưng không thể quan trọng hơn sức khỏe và tính mạng của học sinh. Vì vậy, cô giáo đã có lỗi trong việc để tình trạng sức khỏe của học sinh trầm trọng hơn.
- Nên thông báo với đoàn thanh tra tình hình đột xuất của lớp để xử lý đối với em học sinh đang bị bệnh (như thông báo gia đình, đưa em đi viện…) rồi hãy thực hiện bổn phận và trách nhiệm chuyên môn của mình.
Tình huống 5: Lớp 5 của cô giáo Thông có một học sinh cá biệt: lười học, thiếu tập trung trong giờ học, hay nói chuyện, láu miệng, hay đánh hống trong lớp… Cô Thông rất bực mình và thường hay khiển trách, chê bai em học sinh đó trước lớp, thậm chí hăm dọa sẽ có biện pháp xử lý mạnh với em, nhưng em vẫn chứng nào tật đó.
            Một hôm, đang giảng bài, thấy em không tập trung, cô Thông gọi:
-         “Minh! Em đứng dậy và nhắc lại lời cô vừa nói!”
Minh đứng dậy và trả lời ngay:
-         “Thưa cô! Cô vừa nói: Minh, em đứng dậy và nhắc lại lời cô vừa nói”
Cô Thông uất đến nghẹn lời. Xin nhờ bạn hãy giúp cô Thông xử lý tình huống này!
Gợi ý: - Phải ghi nhận là em Minh là học sinh cá biệt nhưng thông minh. Em đã nhanh chóng đẩy cô giáo từ tình thế chủ động sang bị động. Trong trường hợp này, cô giáo hãy bình tỉnh, không nổi nóng và thiếu tự chủ. Cô giáo nên nhẹ nhàng lấy lại thế chủ động: “Vâng! Em rất thông minh, nhưng ý cô hỏi không phải là vậy! Đề nghị em hãy trả lời theo đúng ý cô hỏi!”. Nếu em không trả lời được thì lưu ý em cần tập trung và gọi em khác trả lời thay.
- Là học sinh cá biệt, giáo viên cần có biện pháp giáo dục cá biệt, không nên giáo dục một cách chung chung trên lớp, nhất là không nên thường xuyên khiển trách, chê bai Minh trước lớp như cô giáo Thông.
Tình huống 6: Trong một tiết thao giảng của đồng nghiệp - vừa là bạn rất thân của bạn, tiết dạy không được thành công: còn nhiều thiếu sót về kiến thức, chưa tốt về phương pháp. Tuy vậy, khi đóng góp xây dựng tiết dạy để rút kinh nghiệm chung thì mọi người “nhìn mặt nhau” và đều góp ý một cách chung chung, qua loa, lấy lệ, không nêu rõ ra những ưu hay khuyết điểm của tiết dạy. Còn bạn? Bạn sẽ đóng góp ý kiến của mình như thế nào?
Gợi ý: - Đây là một tình huống khó xử vì số đông đã “bằng mặt, không bằng lòng”. Tuy nhiên, cần xác định rằng: tình cảm đồng nghiệp, bạn bè bền vững phải dựa trên nền tảng của sự thẳng thắn, trung thực và chân thành. Vì vậy trong trường hợp này, không nên “theo đuôi” với số đông đồng nghiệp.
- Song, cần lưu ý là việc phê bình hay góp ý người khác, hơn nữa là đồng nghiệp, lại là bạn thân là cả một nghệ thuật và rất cần sự khéo léo, tế nhị. Cần phân tích tiết dạy một cách khách quan cả về ưu điểm và khuyết điểm; không bươi móc, nhỏ nhặt và đưa ra  được hướng giải quyết tốt hơn. Có thể nhất thời đồng nghiệp của bạn sẽ chột dạ, không vừa lòng, cho rằng bạn có ý “chơi trội”, nhưng nếu bạn thực sự trung thực và chân thành thì sớm muộn gì bạn của bạn cũng sẽ hiểu.
Tình huống 7: Trong lớp có hai trường hợp học sinh như sau:
-         Học sinh A thuộc gia đình khá giả, nhà gần trường lại được bố mẹ thường xuyên đưa đón đến trường nên luôn luôn đi học đúng giờ và được cô giáo thường xuyên biểu dương.
-         Học sinh B thuộc gia đình nghèo, nhà lại xa trường, một mình em phải băng qua một cánh đồng rộng và nhiều khe suối; cho dù em đã dậy và đi  học từ rất sớm nhưng vẫn có lúc trể giờ vào học. Mỗi lần như vậy thường bị cô giáo chê trách và bảo: “Em cần cố gắng”. Qua nhiều lần như thế, em B đã mạnh dạn thưa với cô giáo: “Thưa cô! Em đã cố gắng hết sức rồi ạ!”.
Theo bạn, bạn nên nói gì với em B và bạn có nhận xét gì về việc đánh giá, nhận xét của cô giáo về hai học sinh nêu trên?
Gợi ý: - Có lẽ một cô giáo có tâm thì không ai không xúc động đến nghẹn lời trước tình cảnh và sự bộc bạch của học sinh mình như vậy. Và, chắc chắn lời nói với em lúc bấy giờ chỉ có thể là một lời an ủi, cảm thông.
- Việc nhận xét, đánh giá của cô giáo đối với hai học sinh như nêu trên chỉ mới đúng ở biểu hiện cuối cùng của mỗi em mà không có tác động giáo dục, khuyến khích sự tiến bộ cụ thể đối với từng em: một bên không cần cố gắng gì cả đã “tốt”; một bên đã cố gắng hết sức mình mà vẫn không thể “tốt” hơn được. Tình huống, có lẽ, muốn nhắc nhở người giáo viên cần đổi mới sâu sắc cách đánh giá học sinh trong giai đoạn hiện nay: tìm hiểu cụ thể hoàn cảnh, tình hình của học sinh; cảm thông và chia sẽ những khó khăn và đánh giá theo mỗi tiến bộ nhỏ trong điều kiện và khả năng hiện tại của mỗi em.
Tình huống 8: Giả sử có một phụ huynh trực tiếp đến gặp bạn nói những điều không tốt về một đồng nghiệp đang dạy lớp con của họ. Phụ huynh cho rằng cô giáo nọ thiếu nhiệt tình, dạy học sinh không hiểu và đặc biệt là cô giáo có định kiến và thiếu quan tâm với con em họ nên con họ học không tiến bộ. Phụ huynh đó có nguyện vọng xin con sang học lớp của bạn và yêu cầu bạn giữ kín câu chuyện mà họ đã nói với bạn.
            Bạn sẽ xử lý như thế nào với tình huống như vậy?
Gợi ý:  Đây là tình huống rất tế nhị và có tính nghiêm trọng. Tế nhị là làm sao để bảo vệ uy tín cho đồng nghiệp và không bị đồng nghiệp hiểu lầm; nghiêm trọng ở chỗ nếu thực sự là có định kiến của giáo viên đối với học sinh thì dứt khoát phải có biện pháp can thiệp để không ảnh hưởng không tốt đến con đường học vấn của học sinh đó. Trước phụ huynh, giáo viên nên tìm cách bảo vệ đồng nghiệp và cũng lưu ý họ rằng không nên thổi phồng, nói quá sự việc, đồng thời cố đo lường cho được mức độ, tính chất sự việc qua lời trình bày của phụ huynh; khéo léo từ chối nguyện vọng xin chuyển lớp của phụ huynh vì ngoài thẩm quyền giải quyết của giáo viên.
- Cách tốt nhất để xử lý tình huống này là phân tích cho phụ huynh hiểu về trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa phụ huynh với giáo viên, không đổ hết trách nhiệm lên giáo viên rằng dạy con họ không tiến bộ; phân tích để phụ huynh biết rằng việc bố trí học sinh theo lớp, phân công giáo viên đứng lớp giảng dạy không thuộc thẩm quyền của mỗi giáo viên. Từ đó đề nghị phụ huynh trực tiếp làm việc với BGH trường để đề đạt nguyện vọng.


Những đóa hoa tri ân: Nói sao cho hết ơn thầy!



f
Chăm lo thế hệ mầm non tương lai của đất nước
(GD&TĐ) - Là những giảng viên, giáo viên đã có mấy chục năm miệt mài dạy học, nghiên cứu, đã góp phần đào tạo biết bao lớp học trò thành đạt. Dù tên tuổi đã rất nổi tiếng, nhưng với họ, mỗi thành công dù lớn hay nhỏ đều có bóng dáng những người thầy tận tụy, yêu thương.
Cảm ơn cha - người thầy đầu tiên
Với PGS Văn Như Cương - Hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh, người thầy ông ghi nhớ và mang ơn suốt cuộc đời, nhưng đến nay vẫn còn mang nỗi day dứt khôn nguôi - đó chính là bậc sinh thành. 
PGS Văn Như Cương
Người thầy tuổi đã ngoài thất thập xúc động nhớ lại: Cũng giống như mọi người, tôi đã được rất nhiều thầy dạy cho mình thành người có ích.
Việc học tập của tôi may mắn là rất “thông đồng bén giọt”: Cấp một học trường làng, cấp hai học trường huyện, cấp ba học trường tỉnh, học ĐHSP tại Thủ đô, học trên ĐH tại Maxcơva. 
Các  thầy giáo của tôi, từ các hương sư đến các vị giáo sư, đều là những con người đáng kính trọng, không những đã mở mang trí tuệ cho tôi mà còn là tấm gương cao đẹp về đạo đức con người để tôi noi theo…
Hằng năm, vào Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, tôi luôn luôn nhớ đến các thầy giáo cũ với lòng biết ơn vô cùng sâu sắc. Chỉ tiếc rằng, đa số đã về cõi vĩnh hằng… 
Tôi muốn nói đến người thầy đầu tiên, không ai khác chính là bố tôi.
Bố tôi là một thầy giáo trường làng, mẹ tôi làm nghề dệt lụa và làm ruộng. Mặc dù đời sống gia đình không hề sung túc, nhà tranh vách đất, ăn uống đơn sơ, đạm bạc, nhưng anh chị em chúng tôi được bố mẹ lo cho học hành tử tế, được dạy dỗ một cách nghiêm túc từ lúc chưa cắp sách đến trường.
Ngay từ lúc bé chúng tôi đã phải làm việc mặc dù là công việc đơn giản. Tôi và em trai được phân công dọn dẹp nhà cửa vào buổi sáng thường ngày. Chúng tôi dạy sớm, tập thể dục cùng bố, sau đó là làm vệ sinh nhà cửa. Công việc không nặng nề gì, chỉ là sắp xếp giường chiếu gọn gàng, lau chùi bàn ghế sạch sẽ, quét nhà đổ rác, tưới cây trong vườn…
Chúng tôi có một mảnh vuờn nhỏ để trồng rau. Bố tôi thường cùng hai anh em trai chúng tôi cuốc đất, vun luống, trồng rau, tưới rau hàng ngày vào buổi chiều. Lớn tuổi hơn, công việc lao động cũng tăng lên. Ví dụ đi gánh nước, đi làm ruộng, cắt cỏ và tự mình giặt quần áo, thậm chí nếu cần thì thổi cơm, luộc rau, làm thức ăn….Về sau, khi bước vào đời, tôi nghiệm ra rằng thói quen lao động đã giúp tôi rất nhiều...
Đối với bố tôi, lao động không phải chỉ làm xong công việc mà ông còn có những yêu cầu cao hơn. Tôi nhớ, nhiều lần khi chúng tôi trồng xong một luống rau, ông quay lại nhìn và bắt chúng tôi nhổ lên trồng lại. Lí do là hàng cây trồng không thẳng.
Tôi sợ nhất là khi cùng ông đóng tranh hay khẩu hiệu gì đó lên tường nhà. Ông bắt tôi đứng xa và ngắm nhìn để ông đóng đinh sao cho thẳng. Khi đóng xong ông xuống thang đứng ngắm lại. Nhiều lần ông mắng tôi “thế mà bảo thẳng à, rõ ràng là bị lệch rồi”.
Mỗi lúc kiểm tra vở viết của tôi, nếu chữ viết không ngay ngắn, thẳng hàng là ông mắng ngay. Ông dạy chúng tôi: “Cái gì cũng phải thẳng thắn, nhất là con người. Một con người không thẳng thắn là điều xấu hổ”. 
Bố tôi có rất nhiều học trò đi làm cách mạng (trước năm 1945) và rất nhiều người trưởng thành. Mỗi lúc về làng, họ đều đến thăm ông và đều nói rằng ông là người hướng dẫn đầu tiên cho họ tìm ra con đường đúng đắn.
Vào gần cuối đời ông gặp phải một chuyện buồn. Ông vốn là đảng viên, nhưng năm 1954  bị quy là phần tử phản động chui vào Đảng (đó là năm có phong trào “đấu phản động”). Về sau thì ông cũng được giải oan và được kết nạp lại vào Đảng.
Và tôi cũng có một mối ân hận suốt đời. Khi bố bị quy sai, tôi không nghĩ bố mình bị oan, mà chỉ nghĩ: “Trời ơi, bao nhiêu năm ở cùng bố mà không nhận ra bố là một kẻ phản động…”. Đó là một ý nghĩ tồi tệ, day dứt mãi không thôi!     
Các thầy đã truyền cho tôi ngọn lửa đam mê
“Tôi không bao giờ quên hình ảnh GS Nguyễn Thị Dụ, khi đó mới chỉ là một bác sĩ, ghé miệng, hút đờm dãi cho bệnh nhân trong cơn nguy kịch. Chuyện là, một bệnh nhân trong bệnh viện đang đặt nội phế quản thì bị sặc, đờm dãi vọt lên từ nội khí quản. Nếu bình thường, bác sĩ sẽ dùng máy hút đờm dãi cho người bệnh, nhưng đúng lúc đó thì mất điện.
Tình huống nguy cấp, bởi nếu để đờm dãi tắc trong nội phế quản, bệnh nhân sẽ tử vong. Không chần chừ, cô Dụ đã ghé miệng hút thứ mà mọi người chỉ nghe đã thấy ghê đó. Hình ảnh ấy khiến một sinh viên như tôi choáng váng và ấn tượng mãi về sự xả thân vì người bệnh”.
GS. TS. NGND Nguyễn Lân Việt
GS.TS.NGND Nguyễn Lân Việt - nguyên Hiệu truởng Trường ĐH Y Hà Nội, nguyên Viện trưởng Viện tim mạch quốc gia, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch Trường ĐH Y Hà Nội bắt đầu câu chuyện về những người Thầy của mình:
Cùng với cô Dụ, thầy Vũ Văn Đính khiến tôi hết sức khâm phục bởi tấm gương quên mình vì người bệnh.
Tôi thực sự ngạc nhiên bởi trong thời gian rất dài, có khi hàng tuần lễ, thầy, cô ở trong bệnh viện cả ngày lẫn đêm; thời gian dành cho gia đình vô cùng ít ỏi.
Thầy Đính là người có chuyên môn rất giỏi và luôn bám sát người bệnh. Chúng tôi được thầy dạy từ cách phát hiện triệu chứng, cách theo dõi người bệnh, cách điều trị, làm các thủ thuật… Chính những điều tưởng như nhỏ bé đó đã giúp tôi trưởng thành dần trong nghiệp hành nghề của mình.
Tôi cũng rất nhớ hình ảnh GS. Phạm Khuê lúc nào cũng tay lăm lăm cuốn sổ. Mọi bệnh nhân vào bệnh viện, thầy đều ghi chép lại không thiếu một người. Từ đó, thầy chọn ra những ca bệnh hay, hiếm gặp rồi tự nghiên cứu, đọc thêm tài liệu để giảng lâm sàng cho chúng tôi. Phải tâm huyết với nghề lắm lắm mới làm được như vậy.
Rồi thầy Nguyễn Quang Quyền, người luôn cuốn hút sinh viên bởi phương pháp giảng bài rất đơn giản mà vô cùng hiệu quả. Thầy vào lớp, tay cầm xương chày, xương mác; tay kia cầm mấy viên phấn màu, từ từ vẽ lại giải phẫu của cẳng chân, giải thích chỗ này có một dây thần kinh đi ra, chỗ kia có mạch máu nên khi cắt phẫu thuật phải hết sức chú ý.
Bài giảng có điểm nhấn, cách dẫn giải chi tiết, vừa dễ hiểu, vừa hấp dẫn. Với phương tiện rất đơn giản ấy, thầy Quyền đã giành giải Nhất trong giảng dạy về sư phạm y học của các nước khu vực Đông Nam Á...
Tôi rất muốn nhắc lại hàng loạt những người Thầy của tôi: GS Đặng Văn Chung; GS Phạm Khuê; GS Vũ Văn Đính; GS Nguyễn Thị Dụ; GS Trần Đỗ Trinh; GS Phạm Gia Khải; GS Lê Huy Liệu; GS Trần Đức Thọ; GS Nguyễn Văn Xang; GS Nguyễn Khánh Trạch; GS Trần Ngọc Ân; GS Chu Văn Ý…
Họ đã góp phần tạo nên một thế hệ vàng cho nền y khoa Việt Nam. Tôi thực sự may mắn vì được các thầy, cô dìu dắt, vừa dạy kiến thức, vừa truyền lửa đam mê. Xin trân trọng tri ân, cảm ơn các Thầy!
Hiếu Nguyễn (ghi)

Một bài thơ hay!



1) Đọc xuôi:
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài dậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười
2) Đọc ngược:
Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc dậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

3) Bỏ hai từ đầu ở mỗi câu, đọc xuôi:
Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Dậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười
4) Bỏ hai từ cuối ở mỗi câu đọc ngược:
Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc dậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh Xuân cảnh mến ta
5) Bỏ ba từ đầu ở mỗi câu, đọc ngược:
Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân
 
6) Bỏ ba từ cuối ở mỗi câu,đọc xuôi:
Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài dậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai
7) Bỏ bốn từ đầu ở mỗi câu,đọc xuôi: 
Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Đàn trầm bổng
Mắt mỉm cuời
8- Bỏ bốn từ cuối ở mỗi câu, đọc ngược:

Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Dậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta
(St internet)

Truyện ngắn Bố của Xi-mông

Lớp học vừa tan, đám trò nhỏ ùa ra như bầy ong vỡ tổ. Song, thay vì chạy mau về nhà, chúng lại tụm năm tụm ba từng nhóm để xù xì to nhỏ. Lý do đơn giản, hôm nay là ngày đầu tiên cậu bé Simon con trai của nàng La Blanchotte đi học. Mọi người ai cũng biết đến nàng. Chẳng hiểu thiên hạ thương hay ghét, nhưng chắc một điều, họ nhìn nàng với cặp mắt ẩn dấu lòng khinh thị. Đám trẻ cũng nhận ra điều ấy, mặc dù chúng không thể nào hiểu nổi vì lý do gì. Riêng thằng bé, đám trẻ chẳng hề quen biết nó. Nó có bao giờ chơi với ai đâu. Đám trẻ chú ý đến thằng bé với một chút thích thú, một chút tò mò. Cầm đầu là chú nhóc đàn anh khoảng mười bốn hoặc mười lăm tuổi, chúng tụm với nhau rù rì, lập đi lập lại một câu duynhất, "Mày biết thằng nhóc đó không... Nó không có cha."

Thằng bé khoảng bảy hoặc tám tuổi, xanh xao nhút nhát. Điệu bộ của nó vụng về ngượng nghịu đến phát tội. Tan trường về nhà, tai nó nghe đầy lời đám trẻ xầm xìkhông ngừng. Chúng ranh mãnh theo dõi từng bước của nó. Bằng trò trêu ghẹo độc ác vô tội vạ của con nít, chúng chận trước chận sau, bao vây dồn thằng bé vào giữa. Nó chỉ biết đứng chịu trận, vừa ngạc nhiên, vừa hoang mang sợ hãi chẳng biết chúng muốn gì. Nó đỏ mặt cúi đầu xuống đất. Tên thủ lĩnh hất hàm.

- Tên gì... mày!

Thằng bé lí nhí.

- Simon.

Một thằng vặn.

- Simon gì... hở...

Thằng bé bối rối.

- Simon.

Tên thủ lĩnh quát vào mặt thằng bé.

- Đó không phải là tên. Simon gì mới được chứ!

Nước mắt chực trào ra, thằng bé khổ sở trả lời lần thứ ba.

- Em tên Simon.

Đám ranh con cười ồ. Tên thủ lĩnh oang oang chiến thắng.

- Tụi bây biết không, thằng này không có cha!

Đột nhiên cả đám im như tờ. Đám trẻ lặng người trước sự kiện khác thường quái dị này. Đứa trẻ không cha... Chúng nhìn thằng bé như một vật kỳ lạ, bất bình thường. Chúng thấy mình ngu xuẩn vì trước đến nay cứ hồ đồ thương hại người mẹ của nó. Phần thằng bé, nó chống người vào gốc cây cho khỏi té và đứng chết trân như trời trồng. Nó muốn mở miệng, nhưng lại không biết nói gì cho đám trẻ hiểu. Rõ ràng chẳng thể chối cãiđược điều khủng khiếp ấy. Nó thật sự không có cha. Cuối cùng, nó liều lĩnh quát to.

- Có! Tao có cha.

Một thằng nhãi hất mặt.

- Đâu... Cha mày đâu...

Thằng bé làm thinh. Nó không biết cha mình ở đâu. Đám trẻ cười ngặt nghẽo và còn tỏ ra vô cùng thú vị. Lũ ranhcon reo hò như đám thú điên tiết tàn nhẫn muốn banh xé con mồi, cho dù đó là đồng loại của mình. Thình lình, chú bé nhận ra trong đám trẻ có thằng nhóc láng giềng mà nó thường thấy luôn quanh quẩn bên bà mẹ goá. Nó chỉ thằng nhóc.

- Còn mày, mày cũng đâu có cha.

- Có, tao có cha.

- Cha mày đâu...

Thằng nhóc kiêu hãnh trả lời.

- Cha tao chết rồi. Ổng ở trong nghĩa địa kia.

Đám trẻ xôn xao, thể như bằng chứng có người cha chết chôn trong nghĩa địa đủ để người chiến hữu của mình đánh bại đối thủ không cha.

Sau đó lũ nhãi ranh, con của những tên ma đầu, rượu chè, trộm cắp, vũ phu, chen nhau lấn thằng bé. Tên thủ lĩnhbất ngờ le lưỡi trợn mắt.

- Lêu lêu không cha! thằng không cha!

Thằng bé nổi giận, vừa túm tóc tên nhóc vừa giơ chân đá. Nó còn nhào đến, dữ tợn cắn vào má tên nhóc một phát, mở màn trận đấm đá tay đôi ác liệt, giữa đám giặc con đứng vòng ngoài vỗ tay reo hò. Tàn cuộc, thằng bé u đầu sứt trán, tay chân quần áo đầy đất cát. Một thằng lõi còn quát nó.

- Về méc với cha mày đi!

Tim thằng bé đau nhói. Chúng nó đông hơn, chỉ lấy thịt đè người cũng đủ chết, và thằng bé chẳng thể mở mồm biện minh được gì. Thật sự nó chẳng có người cha. Nó nghẹn ngào, nhưng vì niềm kiêu hãnh, nó cắn răng không khóc trước mặt lũ ranh. Thằng bé cố nén giòng nước mắtđ ang trào dâng, nhưng niềm tức tưởi oà thành tiếng nấc không ngừng. Lũ ranh vỡ trận cười thoả thích. Chúng tay nắm tay nhau, reo hò nhẩy múa quanh thằng bé bằng điệp khúc, "Con không cha! ê hê con không cha!"

Bất ngờ thằng bé ngừng tiếng nấc. Nó giận điên cuồng, cúi nhặt nắm đá dưới chân, bằng hết sức lực của mình ném mạnh vào lũ ranh đang hành hạ nó. Hai ba thằng bị trúng đạn, bỏ chạy. Vừa ôm đầu, vừa la làng khiến cả đám thất hồn kinh vía. Sự hèn nhát y như trò hề trướcthằng bé. Sau đó, chúng giải tán đường ai nấy đi. Còn lại một mình, chú bé không cha ào chạy ra cánh đồng. Hồi ức đau lòng vừa qua trổi dậy, khích động tâm hồn nó đến một quyết định không ngờ. Nó dừng lại suy nghĩ, muốn nhào xuống giòng sông. Trong khoảnh khắc ấy, nó nhớ lại cách đây tám ngày trước tại ngay chỗ này đây, có một tên sáu khổ mạt vận đâm đầu xuống vì đời hắn đã rơi đến tận cùng xã hội. Nó còn nhớ người ta vớt hắn lên. Tiếng thoi thóp, khuôn mặt tái nhợt nhạt, bộ râu sũng nước, và đôi mắt trợn tròng của hắn đã động lòng nó khủng khiếp. Nó còn nhớ tiếng xầm xì của người bu quanh.

- Hắn đã chết.

- Bây giờ thì hắn hoàn toàn sung sướng.

Thằng bé muốn dìm mình xuống sông vì nó không có cha. Nó tuyệt vọng cũng giống tên bần cùng bữa nọ. Nó chạm chân vào nước, đăm chiêu nhìn giòng sông lững lờ trôi. Vàicon cá nhẩy lên mặt nước xanh để đớp ruồi. Nó nín khóc, thích thú nhìn cảnh ngộ nghĩnh đang diễn trước mắt. Tuy nhiên, giữa lúc giông bão trong lòng thằng bé tạm lắng, như ngọn gió thình lình táp mạnh vào thân cây rồi ào đi, nó lại nghe niềm đau cào cấu. "Tôi muốn buông mình cho chết vì làm con không cha. " Trời thật ấm. Ánh hồng trải mình trên cỏ, và giòng nước trong như gương. Thằng bé tận hưởng giây phút êm ả. Nó thổn thức một hồi, đoạn mệt nhoài buông mình mơ màng trên thảm cỏ.

Có con nhái xanh từ đâu nhảy dưới chân thằng bé. Nó chồm người chụp lấy, nhưng con nhái vụt mất. Nó rượt theo đến lần thứ tư mới bắt được. Nhìn con nhái cố sức ngọ nguậy trên tay nó để trốn thoát, thằng bé bậtc ười. Con nhái dồn sức xuống đôi chân sau, cố bật mạnh lên như chàng lực sĩ đang cử tạ. Tròng mở to như muốn lọt khỏi vòng mắt màu vàng viền bên ngoài, và hai chân trước chòi đạp như thể hai tay đang quơ ra cầu cứu. Hình ảnh ấy khiến thằng bé nhớ món đồ chơi của mình. Món đồ chơi được ghép bằng những mảnh gỗ nhỏ đóng từng đoạn chồng lên nhau. Trên ấy là hàng lính tí hon, thao tác tùy theo mảnh gỗ chuyển động. Nghĩ đến đây, nó nhớ nhà, nhớ mẹ, và tủi thân bật khóc. Tay chân thằng bé runrẩy, nó buông người quỳ xuống và cầu nguyện như hằng đêm trước khi đi ngủ. Song, chưa cầu nguyện xong, điều đau khổ lại trào dâng trong lòng khiến nó oà khóc lớn. Bất ngờ, có bàn tay ai nặng trịch đặt lên vai nó. Theo đó là giọng nói trầm hùng.

- Bé con ơi, việc gì khiến con buồn đến thế...

Thằng bé quay lại. Một người thợ với hàm râu đen và mái tóc dợn từng sợi, đang chăm chú nhìn nó. Thằng bé tức tưởi.

- Tụi nó đánh con vì con không có cha.

Người thợ mỉm cười.

- Sao kỳ cục vậy... Ai cũng có cha mà con.

Thằng bé đau thắt người, trả lời.

- Nhưng con không có.

Nghe câu nói, người thợ bối rối. Chàng nhận ra thằng bé là con của nàng. Dù chỉ mới đến vùng này, nhưng chàng đã nghe qua về hoàn cảnh mẹ con nàng. Chàng bảo thằng bé.

- Nín khóc đi con. Chú sẽ dắt con về với mẹ. Mẹ con sẽ chỉ cho biết cha ở đâu.

Chàng cầm tay thằng bé, dắt nó đi. Chàng mỉm cười lần nữa khi nghĩ đến nàng. Trong lòng chàng, không như mọi người ở đây thường nghĩ về nàng. Họ cho rằng người con gái đẹp nhất vùng này đã một lần hư thân sẽ tiếp tục chẳng ra gì. Nhưng chàng thì không, chàng có cái nhìn khác về mẹ con nàng. Họ về đến trước căn nhà nhỏ xinh xắn. Thằng bé gọi to.

- Mẹ ơi mẹ!

Người đàn bà trẻ xuất hiện, chàng vội nghiêm mặt. Vừa trông thấy nàng, chàng liền tự hiểu chớ nên coi thường người con gái xanh xao đang đứng ngay khung cửa này. Nàng đứng nghiêm trang trong dáng điệu phòng thủ, nét lạnh lùng cách biệt bắt đầu từ một lần bị lừa dối.

Cầm chiếc mũ trên tay, chàng ngượng ngập ấp úng.

- Thưa cô, tôi gặp cháu đi lạc ngoài bến sông...

Thằng bé nhào ôm cổ mẹ, mếu máo.

- Không phải mẹ ơi, con muốn nhảy xuống sông. Tại tụi nó đánh con... Tụi nó đánh con vì con không có cha.

Mặt nàng ửng đỏ, ôm vội con vào lòng mà nước mắt tuôn trên má. Chàng đứng yên không nhúc nhích và chẳng biết làm cách nào để thối lui. Chợt thằng bé chạy đến chân chàng.

- Chú làm cha con được không...

Ngột ngạt bao trùm, không ai nói một lời. Điếng người xấu hổ, nàng lảo đảo dựa vào tường, tay ôm lấy ngực. Thằng bé không nghe chàng trả lời, liền tuyên bố.

- Nếu chú không chịu làm cha của con, con sẽ nhảy xuống sông.

Chàng liền chộp câu đó như lời đùa.

- Được chứ sao không, nhóc con.

Thằng bé làm quen.

- Chú tên gì để có ai hỏi thì con nói.

- Philip.

Thằng bé im lặng vài giây như ghi nhớ vào lòng. Nó giơ tay âu yếm.

- Nè, Philip. Bây giờ chú là cha của con.

Chàng nhấc bổng nó lên, hôn mạnh đôi má thơ ngây, đoạn bỏ đi thật mau. Hôm sau đi học, thằng bé lại bị đám trẻ chọc ghẹo. Đến giờ tan trường, khi tên thủ lĩnh khởi sự thì thằng bé tuôn một tràng đã sắp xếp sẵn trong đầu.

- Cha tao tên Philip.

Cả bọn được dịp cười như vỡ chợ.

- Philip... Philip nào... Mày kiếm ở đâu ra hả...

Thằng bé đứng yên không đáp, thách thức nhìn bọn trẻ như sẵn sàng chịu đòn. Nhưng thầy giáo đến can thiệp cho nó về nhà với mẹ. Trong ba tháng liền, người thợ thường đi ngang nhà nàng. Khi gặp nàng ngồi may bên cửa sổ, chàng liều lĩnh bước đến gợi chuyện. Chàng hỏi, nàng trả lời lễ độ, nhưng trầm tĩnh nghiêm trang. Nàng chưa hề mởmiệng cười đùa, cũng không hề mời chàng vào nhà. Dù vậy, lòng tự tin của người đàn ông cho chàng cảm giác nàng hồng đôi má khi tiếp chuyện chàng. Cho dù nàng kín đáođến đâu cũng không qua được mắt dư luận, và lời đồn bắt đầu to nhỏ. Riêng thằng bé, nó yêu mến người cha mình vừa có quá đỗi. Gần như ngày nào nó cũng thả bộvới chàng khi chàng xong việc. Đến trường, nó hãnh diện với bạn. Rồi một ngày, tên thủ lĩnh tấn công lần trước, bảo nó.

- Mày nói dóc. Ổng đâu phải là cha mày.

Thằng bé khó chịu.

- Mắc mớ gì mày.

Tên nhóc xoa tay.

- Nếu ổng là cha mày thì ổng phải là chồng của mẹ mày chứ...

Thằng bé hồ nghi lẫn lộn, tuy vậy nó vẫn gân cổ.

- Không biết!!! Ổng là cha tao đó.

Tên nhóc chế nhạo.

- Không phải đâu cưng.

Thằng bé cúi đầu, cắm cổ đi thẳng đến lò rèn nơi chàng làm việc. Lò rèn nằm khuất dưới bóng cây. Bên trong tờ mờ, ánh lửa đỏ trong lò rọi sáng khuôn mặt năm người thợ đang đập ầm ỉ xuống cái đe. Họ quần quật cạnh ngọn lửa bốc cháy, và cặp mắt đổ trên miếng thép nóng rực dưới tay nện. Thằng bé âm thầm bước vào không ai để ý. Nó đưa tay kéo áo chàng. Khi chàng quay lại thì bọn thợ cũng ngừng tay, theo dõi. Sau một phút yên lặng, thằng bé đỏ mặt, rụt rè.

- Chú, cho con biết tại sao nó nói chú không phải là cha của con.

- Nó bảo sao...

- Nó nói chú không phải là chồng của mẹ.

Chẳng ai dám mở miệng cười. Chàng đứng chịu trận, một tay ôm đầu. Chàng chỉ biết ngậm câm. Bốn người bạn cứ nhìn trừng chàng như người khổng lồ đang theo dõi con chuột tí hon. Thằng bé sốt ruột. Bất ngờ, một người thợ lên tiếng bằng giọng thông cảm.

- Phải công nhận, mẹ thằng bé là người con gái ngoan và thành thật. Dù lầm lỡ một lần, nhưng sau đó nàng rất kiên quyết và đầy nghị lực. Nàng sẽ là người vợ xứng đáng.

Ba người bạn gật đầu đồng lòng.

- Đúng vậy.

Người thợ nói tiếp.

- Người con gái vấp ngã đâu phải lỗi chỉ ở mình nàng. Người ta từng hứa cưới nàng. Tôi còn biết họ là người được trọng vọng, và đã biết lỗi mình làm.

Ba người bạn nhất trí đồng thanh.

- Thật vậy mà.

Người thợ tiếp tục.

- Một mình nuôi dạy đứa con, nàng phải chịu đựng bao nhiêu đắng cay tủi cực. Nước mắt khóc âm thầm ai hay... Từđó, không giao du, không qua lại với ai. Chỉ có trời mới hiểu lòng nàng.

Ba người bạn bảo nhau.

- Không sai!

Mọi người im lặng, chỉ còn tiếng cánh quạt thổi phù phù. Chàng vội vã cúi xuống bảo thằng bé.

- Con về cho mẹ hay, chú sẽ đến nói chuyện.

Nói xong, chàng đẩy vai thằng bé. Sau đó trở lại cùng đám bạn vùi đầu tiếp tục xuống cái đe. Họ làm việc vui vẻ hăng say đến khi trời sụp tối. Khi chuông nhà thờ ngân đổ từng hồi rộn rã, tiếng búa của chàng từng giây từng phút rền vang hơn. Nó ồn ào như chiến thắng vẻ vang. Mắt đổ vào chiếc lò rực sáng, chàng say sưa với niềm mãnh liệt toé lửa. Trời giăng đầy sao trên lối về nhà nàng. Tối ấy chàng trịnh trọng mặt chiếc áo đi lễ ngày Chúa Nhật, râu tóc tỉa gọn. Vừa nghe tiếng gõ ngập ngừng, nàng đã xuất hiện sát sau cánh cửa. Giọng nàng man mác.

- Trời đã tối, anh không nên đến đây.

Chàng muốn trả lời, nhưng chỉ đứng ngậm câm bối rối. Nàng khổ sở thổn thức.

- Anh cũng biết... mình đừng như thế. Tôi không khamnổi.

- Đừng em! Làm vợ anh nhé.

Không có tiếng trả lời, chỉ có bóng người rủ xống và tiếng thân người đổ nhào. Chàng giơ tay ra, nhảy vội đến. Thằng bé nằm trên giường, nhưng nó chưa ngủ. Nó nghe được tiếng người hôn nhau. Nó còn nghe giọng mẹ nó mềm nhũn.

Bất ngờ, có bàn tay lực sĩ nhấc nó lên và giọng trìu mến rót vào tai nó.

- Nè con, ngày mai đi học nhớ bảo tụi nó cha con là Philip Remy làm thợ rèn. Đứa nào láng cháng ông thợ rèn sẽ kéo đứt tai.

Hôm sau đến trường, khi cả lớp chuẩn bị đọc bài thì nó đứng lên. Mặt tái xanh và môi run run, nhưng nó nói rõ ràng từng chữ.

- Cha tao... cha tao là Philip Remy, làm thợ rèn. Đứa nào láng cháng, cha tao sẽ kéo đứt tai.

Không một ai trong đám trẻ dám mở miệng cười. Người thợ rèn Philip Remy nổi tiếng chúng đều biết, và đứa nào cũng đều hãnh diện có người cha oai phong như chàng.

Điển tích văn học

Nằm gai, nếm mật

 
"Nằm gai nếm mật" do chữ "Ngọa tân thường đảm".

Đời Xuân Thu (722-479 trước D.L.), hai nước Ngô và Việt đánh nhau. Sau trận đại bại tại Cối Kê, vua Việt là Câu Tiễn phải mình trần sang lạy vua Ngô là Phù Sai xin hàng. Ngô vương bắt vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin, có quan Tướng Quốc là Phạm Lãi theo hầu. Cả ba đều bị giam trong ngục đá.

Hằng ngày vợ chồng Câu Tiễn và Phạm Lãi phải cắt cỏ, hốt phân ngựa, gánh nước rửa dọn chuồng ngựa, kiếm củi nấu cơm... Suốt thời gian ba năm, chúa tôi sống một cách vô cùng vất vả cực nhọc, những vẫn bền chí đợi thời.

Một hôm vua Ngô đau, Câu Tiễn nghe theo lời của Phạm Lãi là chịu nếm phẩn của vua Ngô để được vua Ngô tin kẻ hàng giữ dạ trung thành. Nhờ đó mà cả ba được phóng thích về nước.

Được trở về cố quốc, nhớ đến nỗi thất bại nhục nhã và bị giam cầm làm nô lệ, Câu Tiễn vô cùng căm uất, lòng canh cánh mưu toan báo thù. Tướng quốc Phạm Lãi nói:

- Chúa công chớ lúc nào quên cái nhục ở ngục đá thì mới có cơ báo thù được nước Ngô.

Câu Tiễn đáp:

- Xin vâng lời dạy bảo!

Bấy giờ giao quốc chính cho Văn Chủng, giao quân chính cho Phạm Lãi, nhà vua tôn hiền đãi sĩ, kính người già, thương kẻ nghèo, đối xử trăm họ như anh em nên được mọi người mến phục.

Đến mùa làm ruộng, Câu Tiễn cũng vác cày đi càỵ Vương phi Câu Tiễn cũng chăm việc dệt cửi. Cùng đám dân chia sự lao khổ, ăn mặc rất tiết kiệm.

Muốn gấp báo thù, Câu Tiễn cố sức chăm chỉ làm việc suốt ngày đêm. Khi nào buồn ngủ thì lấy cỏ lục (rau răm) xoa vào mắt cho cay làm mắt phải mở. Chân lạnh muốn co thì dầm nước lạnh. Mùa đông lạnh thì ôm giá. Mùa hè nóng nực thì ngồi bên lửa. Bỏ cả giường nệm, lấy gai lấy củi lót nằm. Quả mật luôn luôn treo ở chỗ ngồi, chỗ nằm, thỉnh thoảng lại nếm một ít như để nhắc lại nỗi tủi nhục, khổ đau. Đêm nào cũng sùi sụt khóc. Khóc chán lại thở dài. Hai chữ "Cối Kê" lúc nào cũng lẩm nhẩm ở miệng.

Theo 7 kế phá Ngô của Văn Chủng, mới thi hành được 3 thì nước Việt hưng thịnh, nước Ngô suy. Cuối cùng nước Việt báo được thù, thôn tính nước Ngô, và vua Ngô tự tử.

Trong bài "Văn tế trận vong tướng sĩ" của Nguyễn Văn Thành đời vua Gia Long, có câu: "Nằm gai nếm mật chung nỗi ân ưu; mở suối bắc cầu riêng phần lao khổ".

"Nằm gai nếm mật" có nghĩa chịu những việc lao khổ để trả thù cho kỳ được là do điển tích trên.

Thanh Minh trong tiết tháng ba
 Thanh Minh là tên một thời tiết, tức là một khoảng thời gian phân định sẵn trong lịch Tàu.

Lịch cổ nước Tàu chia một năm ra làm 8 tiết, gọi là "Bát tiết": lập Xuân, lập Hạ, lập Thu, lập Đông, Xuân phân, Thu phân, Hạ chí và Đông chí.

Lịch Kim (tức là lịch đời Hán trở lại) của Tàu thì chia năm ra làm 24 Khí hoặc Tiết. Cứ ba ngày là một Hậu; 5 Hậu là một Khí hoặc Tiết. Một năm có 24 Khí hoặc Tiết. Mỗi tháng chia làm 2 Khí. Khí nhằm vào những ngày đầu tháng thì gọi là Tiết Khí. Khí nhằm vào giữa tháng thì gọi là Trung Khí. Tiết Khí và Trung Khí thường gọi tắt là Tiết và Trung.

Đầu thời Hán lấy tiết Kinh trập làm "Chính nguyệt trung" (tức là khí vào giữa tháng giêng), lấy Vũ thủy làm "nhị nguyệt tiết" (tức là khí vào đầu tháng hai). Cuối đời Hán, Lưu Hầm làm Tam thống đổi Kinh trập làm "Nhị nguyệt tiết" (khí vào đầu tháng hai), Vũ thủy làm "Chính nguyệt trung" (khí vào giữa tháng giêng), Cốc vũ là "Tam nguyệt tiết" (khí đầu tháng ba); Thanh minh làm "Tam nguyệt trung" (khí giữa tháng ba).

Lịch Tàu ngày nay tức là sau đời nhà Hán thì chia Thanh minh làm Tam nguyệt tiết (khí vào đầu tháng ba).

Hai mươi bốn tiết khí trong một năm là:

Mùa xuân: Lập Xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ.

Mùa hạ: Lập Hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử.

Mùa thu: Lập Thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng.

Mùa đông: Lập Đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn.

Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn tả cảnh Thanh minh có câu:

Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.

"Thanh minh trong tiết tháng ba" là do câu "Thanh minh tam nguyệt tiết" nghĩa là: Tiết thanh minh đầu tháng ba.

Theo cách dùng thuật ngữ của Tàu thì chỉ nói "Tiết tháng ba" hay "Tam nguyệt tiết" tức "Tam nguyệt khí tiết" là người ta hiểu ngay là nói đầu tháng ba. Vì tiết đây là tiết khí nói tắt, mà tiết khí nghĩa là thời tiết nhằm đầu tháng. Vậy thì "trong tiết tháng ba" có nghĩa là "vào đầu tháng ba".

Tục Tàu, nhân tiết Thanh minh, người ta tổ chức lễ thăm mộ gọi là "Lễ tảo mộ", tức là lễ quét tước sửa sang mồ mả. Và, nhân lễ tảo mộ ngoài đồng, mà tự nhiên có hội gọi là "hội đạp thanh" tức là hội giẵm trên đám cỏ xanh ở ngoài đồng.

Cổ thi của Tàu có bài:

Xuân du thanh thảo địa,

Hạ thưởng lục hà trì.

Thu ẩm huỳnh hoa tửu,

Đông ngâm bạch tuyết thi.

LÁ THẮM CHỈ HỒNG



Thành ngữ "lá thắm chỉ hồng " biểu thị cái duyên số tiền định của vợ chồng,là lời nói hộ tình yêu cho những lứa đôi.Thành ngữ này được hình thành từ sự giao kết giữa hai câu chuyện tình thuở xưa.

Lá thắm: Do chữ Hồng diệp. Vu Hựu, đời Đường, một hôm đi chơi, bắt được chiếc lá đỏ trôi trên ngòi nước từ cung vua chảy ra. Trên lá có đề một bài thơ, Vu Hựu bèn để lại hai câu thơ vào chiếc lá đỏ khác, rồi đem thả nơi đầu ngòi nước, cho trôi vào cung vua. Hàn thị, người cung nữ thả lá đỏ khi trước, lại bắt được lá đỏ của Vu Hựu. Về sau, nhờ dịp vua phóng thích cung nữ, Vu Hựu lấy được Hàn thị.Về sau,Vu Hựu thấy chiếc lá có bài thơ của mình trong hộp đồ trang sức của vợ.Ngay lập tức,chàng lấy chiếc lá thắm có bài thơ của người cung nữ đưa cho Hàn Thị xem.Hai vợ chồng hết sức ngạc nhiên trước sự ngẫu nhiên hiếm có này.Anh trai họ của Hàn Thị tổ chức tiệc rượu,ép Hàn Thị làm thơ tả lá thắm.Bài thơ được ứng tác rất nhanh:

Câu thơ tuyệt diêu theo dòng nước
Ôm hận mười năm ngỏ với ai.
Nay được vui vầy loan cánh phượng
Khen thay lá thắm mối manh tài.


Trong truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có câu:

Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều,
Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh.


Chỉ hồng: Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái lục: Vì Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng.Cụ già phán với chàng rằng số chàng phải lấy một cô bé lúc này mới lên ba thường theo mẹ bán rau ở chợ.Sợi chỉ ấy đã buộc chân chàng với cô bé kia.Dù ghét bỏ ,xa cách nhau đên mấy cũng phải lấy nhau.

Về nhà ,chàng thuê người đi giết cô bé nhưng sự chẳng thành.

Về sau chàng lấy vợ,là con một ông quan trong triêu.Lấy vợ được mười năm,chàng mới nhận ra vợ mình là cô bé bán rau ngày xưâ và nay đã trở thành con nuôi của viên quan trong triều.Rõ là Vi Cố không thoát được sự ràng buộc chân của sợi chỉ hồng trong túi cụ già ngày xưa.

Do điển này mà có những danh từ: "chỉ hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt lão" (ông già dưới trăng), "Trăng già", "ông Tơ", để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng, tức là tế ông Nguyệt lão xe dây đỏ đó.

BÁ NHA, TỬ KỲ


Trên đường đi sứ từ nước Sở trở về, quan Thượng Ðại phu Bá Nha, đời Tống (Trung Quốc) qua vàm sông Hàn Dương, trên bờ là núi Mã An, trăng trung thu sáng tỏ; ông truyền lệnh dừng thuyền lại để ngắm cảnh đẹp. Bá Nha chơi đàn tuyệt hay, ai nghe cũng ngơ ngẩn, cây cỏ đắm say, song ông vẫn buồn và cảm thấy cô đơn; có ai hiểu hết tiếng đàn cao đẹp sâu xa của ông. Ông gửi vào tiếng đàn lý tưởng cuộc sống, tình yêu, khát vọng, giấc mơ. Dưới trăng thu, Bá Nha ôm cây đàn, lựa dây gẩy một khúc. Khúc nhạc đang ngân vang rộn rã thì đàn đứt một dây. Ông ngạc nhiên thầm nghĩ: '' Lạ lùng thật, ở nơi vắng vẻ, thâm u này lẽ nào có người biết nghe đàn ta khiến dây đàn ta phải đứt. Hay là có kẻ độc ác nào manh tâm hại ta, nên đàn đứt dây? Ông truyền lệnh cho quân lên bờ tìm bắt kẻ gian phi. Chỉ thấy một chàng tiều phu trẻ tuổi đang ngồi trên phiến đá, bên gánh củi, đang đắm đuối trong một giấc mơ. Biết vậy, quan gọi lên bờ hỏi; chàng đốn củi đáp: Thưa đại nhân, tôi đâu phải người độc ác; tôi gánh củi qua đây, thấy tiếng đàn hay tuyệt vời, nên đứng lại nghe''. Bá Nha mỉm cười chế giễu: '' Người biết nghe đàn của ta? Nơi đây hoang vu, lẽ nào có một chú tiều phu biết nghe đàn?''. Chàng trẻ tuổi nói: ''Thưa đại nhân, tôi nhớ người xưa bảo: Hễ trong nhà có quân tử, thì ngoài cổng có quân tử đến chơi. Nếu nơi núi sông hoang vắng này không có người biết nghe đàn, thì hỏi tại sao nơi đó lại có người biết đánh đàn?''. Ðể thử thật hư, Bá Nha hỏi: ''Vậy vừa rồi, ta gẩy đàn bài gì mà ngươi dừng lại nghe?''. ''Dạ, tôi vừa nghe những tiếng đàn buồn bã. Ðàn kể chuyện Khổng Tử thương tiếc người hiền Nhan Hồi còn trẻ mà tóc đã bạc, xách giỏ cơm bầu nước, sống cuộc đời trong sạch''. Bá Nha kinh ngạc vô cùng; đúng như vậy, ông vừa chơi bản nhạc lấy cảm hứng ở cuộc đời thanh bạch của Nhan Hồi. Ông vội xin lỗi chàng tiều phu và mời chàng xuống thuyền uống rượu, nghe đàn. Bá Nha thay dây đàn, rồi chìm đắm trong cảm hứng cao siêu của một lý tưởng đầy tình nhân đạo, ông gảy một bản đàn réo rắt. Nghe hết bản nhạc, chàng tiều phu reo lên: ''Ôi tuyệt, thật tuyệt, tiếng đàn cao vòi vọi lướt trên đỉnh núi'. Bá Nha giật mình nhìn chàng: thật thế, ông vẫn mơ màng đến những ngọn núi cao. Ông lại say sưa đánh bản đàn khác, lấy cảm hứng ở một giấc mơ rạo rực mênh mông. Chàng tiều phu lại reo: ''Ôi tuyệt, thật tuyệt, tiếng đàn cuồn cuộn mênh mông như nước chảy''. Bá Nha kinh hãi, lệ quanh khoé mắt. Ông đứng dậy xốc áo và cầm tay chàng trẻ tuổi nói: ''Xin chàng thứ lỗi và cho biết quý danh; từ nay xin kết bạn tri âm''. Chàng tiều phu, nét mặt hớn hở, con mắt long lanh, xưng tên là Chung Tử Kỳ. Bá Nha quý người trai tài hoa, ngỏ ý mời chàng về thành đô; đôi bạn sẽ cùng nhau vui sống. Tử Kỳ buồn rầu thưa: ''Tôi xin cảm tạ tấm lòng nhân ái của ngài, tôi còn cha mẹ già, tôi phải ở lại phụng dưỡng''. Bá Nha hẹn đến ngày này sang năm sẽ trở lại nơi này, đón cả gia quyến Tử Kỳ về kinh đô. Hai bên từ biệt nhau, vừa sung sướng vừa xúc động. Bá Nha tìm được người tri kỷ, Chung Tử Kỳ được nghe đàn.

Mùa thu năm sau, đúng ước hẹn, Bá Nha đi thuyền trên sông Hàn Dương, dừng lại bên núi Mã an. Vẫn cảnh tịch mịch hoang vu, vẫn vầng trăng tỏ. Song Bá Nha không thấy bạn cũ. Bá Nha lo lắng, một linh cảm khiến ông bồn chồn, nhìn mấy gò đống trên bờ sông, ông cùng mấy người hầu vội vã lên bờ, tìm hỏi nhà Chung Tử Kỳ. Ðến nơi, cửa nhà vắng vẻ. Một ông cụ chống gậy bước ra, đón khách vào ngồi trên chõng tre; ông cụ lau nước mắt kể lại những ngày cuối cùng của Tử Kỳ con trai ông. Chung Công nói tiếp: ''Cháu dặn hai, ba lần phải chôn cháu nơi bờ sông Hàn Dương, cạnh núi Mã An, để giữ lời hẹn năm ngoái''. Bá Nha thương xót vô cùng. Ông cùng Chung Công ra mộ Tử Kỳ, khóc lóc rất thảm thiết. Ông lấy cây đàn, so dây to, dây nhỏ. Tiếng đàn cất lên nỉ non kể cuộc gặp gỡ thần kỳ năm ngoái. Nước mắt Bá Nha rơi lã chã. Ðàn xong, ông đập đàn vào một tảng đá; đàn vỡ tan nát. Từ ngày ấy không ai nghe thấy thiếng đàn của Bá Nha nữa.

Rằng: ''Nghe nổi tiếng Cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ''

(Truyện Kiều)
Than rằng: ''Lưu thuỷ cao san,
Ngày nào nghe động tiếng đàn tri âm...''

(Lục Vân Tiên)

''Nước non'', ''lưu thuỷ'', ''cao san'' nhắc đến những lời bình của Chung Tử Kỳ khi nghe Bá Nha đánh đàn dưới thuyền. ''Bá Nha, Chung Kỳ'' chỉ tình bạn tri kỷ.
Nghiêng nước nghiêng thành

 
Đời Vũ Đế nhà Hán (140-86 trước D.L.), có một người phường chèo tên Lý Diên Niên múa hát rất giỏi. Được hầu trong nội điện, cung vi của nhà vua, Lý Diên Niên được nghe vua thường than thở:

- Trẫm lập đền Minh Quang, kén hai ngàn mỹ nhân ở vùng Yên Triệu. Nhỏ nhất 15 tuổi, quá 30 tuổi sa thải cho lấy chồng. Thế mà, trong chốn dịch đình có trên 10 ngàn mỹ nhân vẫn chưa thấy ai đẹp cho vừa lòng trẫm. Thật là thiên hạ thiếu giai nhân tuyệt sắc.

Lý Diên Niên có một em gái sắc đẹp tuyệt trần, thường ra vào hầu hạ Bình Dương công chúa. Một hôm, nhân dịp múa hát chầu Vũ Đế, Lý Diên Niên hát:

Phương bắc có giai nhân

Tuyệt vời đứng riêng bực,

Một liếc, người nghiêng thành.

Hai liếc, người nghiêng nước.

Lẽ nào không biết được

Người đẹp thành nước nghiêng,

Người đẹp khó tìm gặp.

Nguyên văn:

Bắc phương hữu giai nhân

Tuyệt thế nhi độc lập.

Nhất cố khuynh nhân thành;

Tái cố khuynh nhân quốc

Khởi bất tri

Khuynh thành dữ khuynh quốc

Giai nhân nan tái đắc.

Nghe hát, Hán Vũ Đế thở dài, than:

- Thế gian lại có người đẹp đến thế chăng?

Bình Dương công chúa nhân đứng hầu bên cạnh nhà vua liền tâu:

- Diên Niên có người em gái đẹp tuyệt trần, còn hơn người trong bài hát ấy nữa.

Nhà vua truyền đòi người đẹp vào cung, xem mặt. Quả là một bực giai nhân tuyệt sắc, lại giỏi nghề múa hát, làm cho nhà vua càng mê mẩn tâm thần, liền phong làm phu nhân. Từ ấy, nhà vua chỉ say sưa đắm đuối bên mình nàng, không còn tha thiết đến một ai nữa. Năm sau, nàng hạ sinh được một con trai.

Một hôm, nàng lâm bịnh nặng, Hán Đế đến tận giường bịnh thăm hỏi. Nàng kéo chăn che kín mặt, tâu:

- Thiếp đau từ lâu, hình dung tiều tụy, không dám đem cái nhan sắc ủ dột tàn phai ra mắt đấng quân vương. Thiếp chỉ xin gởi lại nhà vua một đứa con bé nhỏ và mấy người anh em của thiếp.

Hán Đế ngậm ngùi bảo:

- Phu nhân bịnh nặng không thể qua khỏi được thì hãy giở chăn cho ta nhìn mặt, há chẳng làm cho ta được thỏa lòng sao?

Nàng vẫn che kín mặt, từ tạ:

- Theo lẽ quân thần, phu phụ, đàn bà mặt không sạch, không được ra mắt quân phụ. Vậy thiếp xin nhà vua tha thứ cho.

Nhà vua cố nài nỉ. Nàng vẫn thở dài úp mặt vào trong, không nói năng gì, vẫn giữ chặt lấy chăn.

Vũ Đế tức quá, đứng phắt dậy ra về.

Nhiều người sợ nhà vua giận, nên có ý trách nàng. Nàng trả lời:

- Đàn bà là kẻ chỉ hay lấy nhan sắc thờ chồng. Nhan sắc kém, tình duyên sẽ phai nhạt, và tình yêu sẽ kém. Nhà vua quyến luyến ta chỉ vì nhan sắc xinh đẹp lúc mạnh. Nay ta đau, nhan sắc suy kém, so với thiên hạ ta là kẻ xấu xa. Nhìn mặt ta, nhà vua sẽ chán thì khi nào còn tưởng nhớ đến ta mà ban ân huệ cho anh em ta nữa.

Sau đó nàng chết. Vua Vũ Đế chôn cất nàng rất hậu, lại truyền họa sĩ vẽ hình nàng treo ở cung Cam Tuyền, phong cho anh em nàng quan tước cao.

Ngày tháng qua nhưng hình bóng người đẹp vẫn lởn vởn trước mắt, và mối tình thương nhớ vẫn canh cánh bên lòng... mà nhà vua không tìm thấy thú vui, người đẹp nào bằng người đã khuất.

Đời nhà Đường (618-907), vua Đường Minh Hoàng dắt Dương Quí Phi thưởng hoa mẫu đơn ở đình Cẩm Hương, sai người vời Lý Bạch đến bắt dâng ngay ba bài "Thanh Bình điệu". Lý còn say rượu nhưng cầm bút viết luôn ba bài. Bài thứ ba có câu:

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,

Thường đắc quân vương đới tiếu khan.

Nghĩa:

Danh hoa nghiêng nước sánh đôi vui,

Để xứng quân vương một nụ cười.

Chữ "khuynh quốc" để chỉ cái đẹp tuyệt với của Dương Quí Phi.

Trong "Đoạn trường tân thanh", thi hào Nguyễn Du tả sắc đẹp nàng Kiều cũng có câu:

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.



"Nghiêng nước, nghiêng thành" xuất sứ ở bài hát của Lý Diên Niên.
Kết cỏ ngậm vành
 Kết cỏ ngậm vànhĐời Xuân Thu (551-479 trước D.L.), tướng nước Tần là Đỗ Hồi, đem quân sang đánh nước Tấn.

Hồi vốn là một lực sĩ, răng nhọn hoắc, mắt tròn xoe, tay cứng như đồng, mặt đen tựa sắt, râu xồm tóc quăn, thân cao to lớn, chuyên sử dụng cây Khai Sơn đại phủ (búa to) nặng 120 cân, người giống Bạch Địch. Đã có lần ở Thanh Mi Sơn, Đỗ đâm chết luôn 5 con hổ, lột da đem về. Và, cũng có lần, Đỗ chỉ huy 300 quân mà phá vỡ được hơn 10 ngàn quân giặc ở Sa Nga Sơn. Uy danh càng lừng lẫy.

Tướng của nước Tấn là Ngụy Khỏa đem binh ra nghinh chiến. Đỗ Hồi dẫn 300 quân xông vào mặt trận, múa cây Khai Sơn đại phủ tung hoành chém giết. Búa đến đâu là đầu rơi long lóc. Quân Tấn chết nằm ngổn ngang như rạ.

Ngụy Khỏa vội vàng rút quân, đóng chặt cửa thành, giữ lấy thế thủ. Mặc cho Đỗ Hồi đến khiêu chiến, chửi rủa thậm tệ suốt cả mấy ngày. Vừa lúc ấy có em của Ngụy Khỏa là Ngụy Kỳ vâng lịnh vua Tấn đem binh tiếp ứng. Khỏa thuật cả việc lại. Kỳ không tin, hôm sau đem quân ra nghinh chiến.

Đỗ Hồi lại múa búa, tả xông hữu đột, chém giết quân Tấn tơi bời, máu chảy tợ suối. Ngụy Kỳ thua to. May nhờ có Khỏa liều thân đem quân tiếp cứu mới về được thành.

Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa ngồi buồn rầu, nghĩ quanh nghĩ quẩn, không biết dùng mưu kế gì để phá địch. Đương mơ màng, bỗng nghe có tiếng người văng vẳng bên tai: "Thanh Thảo Pha! Thanh Thảo Pha!" Đến lúc tỉnh dậy, không hiểu nghĩa là sao, mà chợp mắt ngủ lại nghe như trước. Khỏa thuật lại cho Kỳ biết. Kỳ nói:

- Cách đây độ mười dặm (1 dặm bằng 576 thước tây), có một bãi cỏ tên "Thanh Thảo Pha", có lẽ thần minh mách bảo quân Tần sẽ bị bại tại đó. Vậy tôi xin đem một toán quân mai phục sẵn, rồi anh lập kế dụ quân giặc đến. Bấy giờ hai bên đổ ra cùng đánh, chắc chắn sẽ thắng.

Khỏa bằng lòng.

Sáng ra, Ngụy Khỏa giả cách truyền lịnh rút quân. Quả nhiên, Đỗ Hồi đem quân đuổi theo. Khỏa giao chiến qua loa một lúc rồi bỏ chạy, dụ Hồi đến Thanh Thảo Pha. Quân mai phục của Ngụy Kỳ ở hai bên, bất thần đổ ra hợp với quân của Khỏa vây chặt lấy Đỗ Hồi. Hồi chẳng nao núng, múa búa tung hoành như vào chỗ không người. Nhưng bỗng nhiên, Đỗ Hồi đi mỗi bước lại ngã chút một cái, như người bị trượt chỗ nước băng. Quân Tấn lấy làm ngạc nhiên, reo ầm cả lên.

Ngụy Khỏa ngẩng trông thấy một lão già, mặc áo vải chân đi thảo hài, đương kết cỏ lại làm vướng chân Đỗ Hồi. Bấy giờ, Khỏa và Kỳ xông lại bắt sống. Quân Tần mất tướng chỉ huy nên bỏ chạy tán loạn, bị quân Tấn đuổi bắt giết gần hết.

Đem Đỗ Hồi về dinh, Ngụy Khỏa hỏi:

- Mầy cậy có sức khỏe, nhưng nay sao để bị bắt?

Hồi uất hận, trả lời:

- Ta đương đánh, không biết có vật gì trói lấy chân làm cho ta ngã. Đó là trời hại ta, chớ không phải ta thua.

Ngụy Khỏa nghe nói lấy làm lạ. Thấy Hồi có sức mạnh phi thường, sợ thoát thân được nên Khỏa và Kỳ đồng ý đem giết chết, cắt lấy đầu đem về dâng vua Tấn.

Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa nằm ngủ, mơ màng thấy ông lão kết cỏ ở Thanh Thảo Pha hiện đến, vái chào và nói:

- Tướng quân có biết tại sao Đỗ Hồi bị bắt hay không? Vì tôi kết cỏ lại để làm cho Đỗ Hồi vướng chân mà ngã đó.

Ngụy Khỏa kinh sợ, chấp tay đáp lễ, nói:

- Tôi chưa được biết cụ bao giờ, sao cụ lại có lòng tốt quý giúp tôi như vậỷ Tôi biết lấy gì mà trả ơn cụ!

Ông lão nói:

- Tôi là cha của nàng Tố Cơ. Tướng quân theo lời trị mệnh của tiền nhân không chôn sống con tôi, mà còn tìm chỗ xứng đáng gả cho con tôi lấy chồng. Vậy tôi cảm ơn ấy mà giúp tướng quân. Sau này con cháu tướng quân vẫn được đời đời vinh hiển.

Nói xong biến mất.

Nguyên xưa, thân phụ của Ngụy Khỏa là Ngụy Thù có một người thiếp yêu tên Tố Cơ. Mỗi khi Ngụy Thù đi đánh giặc thì thường dặn dò Ngụy Khỏa: "Nếu cha chẳng may chết ở chiến trường, con nên tìm chỗ tử tế mà gả Tố Cơ để nàng khỏi phải khổ sở tấm thân. Cha dẫu chết cũng được yên lòng!"

Nhưng đến lúc Ngụy Thù đau nặng, trước phút lâm chung, lại bảo Khỏa:

- Tố Cơ là người thiếp yêu của cha. Khi cha chết rồi, con phải đem nàng mà chôn theo cha để cho cha ở suối vàng có người làm bạn.

Ngụy Thù chết. Ngụy Khỏa an táng cho cha nhưng không bắt Tố Cơ chôn theo. Ngụy Kỳ hỏi tại sao không vâng lời cha trối lúc lâm chung thì Khỏa đáp:

- Thân phụ lúc nào cũng dặn ta sau này nên gả Tố Cơ lấy chồng. Nhưng đến lúc gần mất, lại dặn phải đem chôn theo. Bởi vậy, kẻ hiếu tử nên theo trị mệnh, chớ không theo loạn mệnh.

Sau, Ngụy Khỏa gả Tố Cơ cho một danh sĩ. Vì có ân đức ấy, nên linh hồn của thân phụ Tố Cơ hiện lên để kết cỏ báo ơn.

"Ngậm vành" do chữ "Hoàng tước hàm hoàn" nghĩa là chim hoàng tước ngậm vòng.

Đời nhà Thương (1733-1154 trước D.L.), triều vua Thái Mậu (1637-1562 trước D.L.), có một chư hầu đem dâng cho nhà vua một con chim hoàng tước trống.

Được chim quý, nhà vua truyền làm một chiếc lồng bằng vàng, chén ăn bằng ngọc và bắt thái giám cho lo săn sóc cực kỳ cẩn thận. Nhưng chim ngày ngày vẫn ủ rũ, không chịu nhảy nhót, kêu hót, vui đùa. Hằng ngày, ngoài vườn, lại có một con chim hoàng tước mái cất tiếng kêu thật bi đát, giọng mỗi lúc càng thảm thiết não nùng. Chim hoàng tước trống ở trong lồng nghe tiếng chim mái ở bên ngoài kêu thì lại càng ủ dột, buồn bã, bỏ ăn bỏ uống. Thỉnh thoảng lại kêu lên một giọng bi thảm.

Thấy chim trống buồn, chim mái kêu bi thương, vua Thái Mậu động lòng thương xót, truyền thả chim hoàng tước trống ra. Được thoát khỏi lồng, trống mái xum họp. Đôi chim bay lượn ba vòng chung quanh đền, cất tiếng hót véo von, giọng trong trẻo lảnh lót.

Một thời gian, nhà vua đương ngự trên đền, bỗng thấy con chim hoàng tước trống bay đến, miệng ngậm một chiếc vòng. Chim lại sà trước mặt nhà vua, nhả chiếc vòng ngọc quý rồi vỗ cánh múa, tỏ vẻ tạ ơn.

Cũng tích "Ngậm vành":

Đời Hậu Hán (25-219) có cậu bé tên Dương Bảo, một hôm đi chơi bên cạnh một khu rừng, thấy một con chim sẻ vàng óng ánh bị chim cắt đánh rơi xuống đất. Chim sẻ què chân, gãy cánh, giãy giụa, kêu la thảm thiết. Bảo đem về chăm sóc, nuôi nấng. Đến khi chim mạnh, lành thì cho bay đi.

Một hôm, có một chàng tuấn tú khôi ngô, mặc áo vàng đến, nói với Bảo:

- Tôi là sứ giả của bà Tây Vương Mẫu, chẳng may gặp nạn, may nhờ ông cứu, ơn ấy chẳng quên. Vậy xin dâng ông 4 vòng ngọc quý, chúng sẽ làm cho bốn đời nhà ông được hưởng phú quý, sang làm đến tước Tam Công.

Dương Bảo vừa nhận lấy vòng, chưa kịp tạ ơn thì chàng trai áo vàng biến mất. Quả nhiên về sau, bốn đời họ Dương đều sang cả đúng như lời.

Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc nàng Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhờ Sở Khanh dắt đi trốn mong thoát khỏi nanh vuốt của Tú Bà, nàng có lời tha thiết nói với họ Sở:

Rằng "Tôi bèo bọt chút thân,

Lạc đàn mang lấy nợ nần yến oanh.

Dám nhờ cốt nhục tử sinh,

Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau.

"Kết cỏ ngậm vành" là do những điển tích trên, ý nói thọ ơn bao giờ cũng đền đáp.
Nam Tào, Bắc Đẩu

 
Quản Lộ tự Công Minh, vốn người ở đất Bình Nguyên đời Tam Quốc (220-264) diện mạo xấu xí, thích uống rượu. Từ bé, Lộ ham xem thiên văn, thường đêm nằm nhìn trăng sao, thao thức không chớp mắt, cha mẹ ngăn cấm không được.

Vừa lớn lên, Quản Lộ đã làu thông kinh Dịch, hiểu hết nghĩa uyên thâm, biết đoán chiều gió, tinh thông khoa lý số và giỏi cả xem tướng.

Một hôm, Lộ ra cánh đồng dạo chơi, thấy một gã thanh niên đương cày ruộng. Lộ đứng lại bên đường, đứng ngắm một lúc, đoạn gọi lại hỏi:

- Này anh kia, dám hỏi quý danh là gì? Niên canh bao nhiêu?

- Tôi họ Triệu tên Nhan, 19 tuổi. Dám hỏi tiên sinh là ai?

Lộ đáp:

- Ta là Quản Lộ đây. Ta thấy trên quầng mắt anh có tử khí. Chỉ còn ba ngày nữa là anh chết. Tiếc thay, gương mặt anh xinh đẹp thế mà không thọ.

Triệu Nhan nghe nói lo sợ, về ngay báo cho cha biết. Người cha lập tức chạy theo tìm gặp Quản Lộ, rồi phủ phục xuống đất, kêu khóc:

- Xin tiên sinh rủ lòng thương, trở lại cứu mạng con tôi.

Lộ nói:

- Đó là số trời, cầu đảo sao được!

Ông lão năn nỉ, van lơn:

- Già này chỉ có một đứa con, xin ngài cứu cho, kẻo khổ một đời...

Nói xong, cả hai cha con dập đầu lạy, khóc bù lu bù loa, trông rất bi thiết.

Lộ thấy cha con lão thiệt tình, lòng không nỡ bỏ, mới bảo Triệu Nhan:

- Anh hãy về tìm một vò rượu ngon rất tinh khiết với một ít thịt nai thật thơm, ngày mai đem vào núi Nam Sơn, tìm gốc cây cổ thụ, sẽ thấy ở trên phiến đá có hai dị nhân ngồi đánh cờ. Một ông ngồi quay về Nam mặc áo trắng, dung mạo dữ tợn, một ông quay về hướng bắc mặc áo hồng, dung mạo rất đẹp. Bấy giờ thừa lúc hai vị cao hứng mải mê đánh cờ, anh cứ bày rượu thịt ra mâm dâng lên. Đợi cho ăn uống xong, sẽ lạy khóc mà xin tuổi thọ. Như thế may được sửa sổ lại. Nhưng nhớ kỹ một điều: chớ nói là ta xúi anh nhé.

Ông lão mời Quản Lộ ở lại nhà mình chờ xem.

Hôm sau, Triệu Nhan cắp nắp rượu ngon, nem thơm, dĩa chén vào núi Nam Sơn. Đi độ năm sáu dặm, quả thấy hai dị nhân đang ngồi đánh cờ trên phiến đáa, dưới bóng rườm rà của cây tùng.

Triệu Nhan đội mâm rượu đến gần. Hai ông vẫn chăm vào bàn cờ, như không có người đứng bên cạnh. Nhan quỳ xuống dâng mâm lên, đặt trên thạch bàn.

Hai ông mải mê đánh cờ, bất giác đưa tay nâng chén... rồi dần dần vừa đánh vừa ăn uống hết cả rượu thịt một cách ngon lành.

Lúc bấy giờ, Nhan mới khóc òa lên và lạy lục xin cầu thọ. Hai ông giựt nẩy mình nhìn lại. Đoạn ông mặc áo đỏ bảo ông mặc áo trắng:

- Hẳn là gã họ Quản xúi nó đến đây, nhưng hai ta đã dùng của nó thì phải thương nó.

Ông áo trắng liền rút quyển sổ trong mình ra, tìm xét, rồi bảo Nhan:

- Năm nay mày 19 tuổi, đáng lý phải chết, giờ đây ta thêm cho một chữ "cửu" lên trên hai chữ "thập cửu" thì mày sẽ sống đến 99 tuổi. Nhưng phải về báo gã Quản Lộ rằng: từ nay phải chừa đi, chớ có tiết lộ thiên cơ nữa. Nếu không trời sẽ khiển phạt, nghe chưa?

Ông áo đỏ cũng mở sổ, thêm vào một nét bút. Rồi một cơn gió thơm ngào ngạt bay qua, hai vị tiên biến thành hai con hạc trắng, bay lên trời mất hút.

Triệu Nhan mừng rỡ, về nhà hỏi Quản Lộ về hai vị tiên ông ấy.

Quản Lộ nói:

- Ông mặc áo hồng chính là ngôi Nam Đẩu hay gọi là Nam Tào. Ông áo trắng là ngôi Bắc Đẩu đấy.

Nhan lại hỏi:

- Tôi nghe nói Bắc Đẩu có những 9 vị, sao chỉ thấy có một ông?

Lộ giải thích:

- Phân tán thì thành 9, kết hợp lại thành một. Bắc Đẩu ghi sổ tử, Nam Tào ghi sổ sinh. Nay đã được sửa số tuổi rồi anh còn lo gì nữa!

Cha con họ Triệu mừng rỡ lạy tạ.

Từ đó, Quản Lộ sợ tội tiết lậu thiên cơ không dám khinh xuất nói hở việc huyền bí cho ai biết nữa.

Ông Đào là ai mà Nguyễn Khuyến phải thẹn?

Đào Uyên Minh còn gọi là Đào Tiềm (365 - 427), tự Nguyên Lượng, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, có nhiều lần Đào Uyên Minh ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên. Lúc bấy giờ ông mới 40 tuổi và viết bài thơ “Quy khứ lai từ” (Về đi thôi!).
Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) hiệu là Quế Sơn, người làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Bấy giờ thực dân Pháp đang đánh chiếm dần cả nước ta, buồn vì không làm được gì trước cảnh nước mất nhà tan, năm 1884, ông cáo quan về sống tại quê nhà. Nguyễn Khuyến có 3 bài thơ về mùa thu thường được người đời nhắc đến nhiều, đó là “Thu vịnh” (Vịnh mùa thu), “Thu ẩm” (Uống rượu mùa thu) và “Thu điếu” (Mùa thu câu cá) đều là thơ Nôm. Bài thơ “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến như sau:
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như từng khói phủ
Song thưa để mặc ánh trăng vào
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”.
Các bản chú thích đều viết chung chung: ông Đào ở đây là Đào Uyên Minh người đời Tấn bên Trung Quốc, là một nhà thơ làm quan nổi tiếng về phẩm chất thanh cao. Nhưng cụ thể ông Đào là người như thế nào và thơ văn ông ra sao thì ít người được biết thật tường tận. Vì vậy, để mọi người thật hiểu bài thơ của Nguyễn Khuyến và câu kết của bài thơ “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”, chúng ta cùng đi tìm hiểu.
Đào Uyên Minh còn gọi là Đào Tiềm (365 - 427), tự Nguyên Lượng, người đất Tầm Dương, Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Cuối thời Đông Tấn, giai cấp thống trị tranh giành quyền lợi, âm mưu cát cứ, tiến hành chiến tranh. Nông dân bị bọn quan lại địa chủ chiếm đoạt, sưu thuế hà khắc, lao dịch nặng nề. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra. Đào Uyên Minh đã phải chứng kiến cuộc phong ba bão táp ấy. Lúc nhà Đông Tấn mất, ông đã hơn 55 tuổi.
Từ năm 29 đến năm 41 tuổi, có nhiều lần Đào Uyên Minh ra làm quan và cũng nhiều lần xin từ chức. Đến năm 405, ông chính thức tuyên bố rút về ở hẳn với điền viên. Lúc bấy giờ ông mới 40 tuổi và viết bài thơ “Quy khứ lai từ” (Về đi thôi!). Trong lời tựa bài thơ, ông nói rõ lý do vì sao đã ra làm quan và vì sao lại bỏ quan về ở ẩn: “Nhà tôi nghèo cày cấy không đủ ăn. Nhà nhiều trẻ, trong nhà không mấy khi có gạo. Chẳng có cách gì kiếm đủ những cái cần thiết, bà con thân thích thường khuyên tôi ra làm trưởng lai”… Trong thời gian lui về ở ẩn, đôi lần các triều đại có vời ông ra làm quan, nhưng ông không ra, ở nhà cày ruộng, uống rượu ngâm thơ, tự do trong cảnh vui thú ruộng vườn hơn 20 năm, mặc dù lúc về nhà, đời sống ông vẫn lao đao, túng quẫn. Toàn bộ thơ Đào Uyên Minh có 114 bài. Ngoài ra có một số phú, văn tế đều nổi tiếng.
Về mặt tư tưởng, Đào Uyên Minh không đứng hẳn về một phe phái nào nhất định. Thời trẻ, ông có tư tưởng của kẻ du hiệp. Khi về ở ẩn, ông lại mang tư tưởng Lão Trang. Nhưng tổng quát thì thấy ở ông nổi trội hơn cả là tư tưởng Khổng Giáo. Ông căn cứ vào tư tưởng, quan điểm của Nho gia mà phê phán hiện thực đương thời và ca tụng quan niệm luân thường đạo đức Nho gia, dựa vào phương châm Nho giáo mà an bần lạc đạo, nhất định không chịu hợp tác với bọn thống trị.
Nội dung tư tưởng trong thơ văn của Đào Uyên Minh có hai nội dung chính: một là thái độ bất hợp tác với chế độ thống trị đương thời, hai là một cuộc sống gần gũi với nông dân. So sánh đời sống tư tưởng và tình cảm cũng như thái độ và hành động của Đào Uyên Minh và Nguyễn Khuyến quả có nhiều nét giống nhau. Tuy ở hai nước khác nhau, hai thời đại khác nhau cách nhau cả nghìn năm nhưng có những nét tương đồng. Đó là một xã hội nhiễu nhương như nhau mà hai ông cùng không muốn hợp tác, tìm con đường về ở ẩn. Mà hàng nghìn năm chế độ phong kiến Việt Nam, những người ảnh hưởng Hán học như Nguyễn Khuyến ít nhiều đều có tư tưởng khâm phục những tấm gương của các danh sĩ Trung Quốc.
Thực ra chưa hẳn ai đã hơn ai nhưng rõ là do tâm thế của danh sĩ nước nhỏ. “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” còn có thể hiểu Nguyễn Khuyến là người đời sau, ông về ở ẩn khi đã 50 tuổi (trong khi Đào Uyên Minh về ở ẩn còn trẻ hơn ông 10 tuổi), Nguyễn Khuyến lại tham gia cuộc thi vịnh Kiều do Lê Hoan tổ chức hoặc làm gia sư trong dinh Hoàng Cao Khải trong khi Đào Uyên Minh thì dứt khoát từ chối mọi lời mời hợp tác của giai cấp thống trị… Có phải như vậy chăng? Hay đó là một cách nói khiêm tốn của nhà Nho? Hoặc Nguyễn Khuyến đã hiểu hết giá trị của thơ Đào Uyên Minh mà người đời không nhìn thấy? Bởi theo nhà thơ Chử Vân Long viết trên báo “Tiền phong chủ nhật” số 44 ra ngày 29/10/2006: “Đào Uyên Minh thời ông sống và mãi sau này, ông chỉ được coi là nhà thơ hạng C. Vậy mà hiện nay, Trung Quốc bình giá lại văn chương đã đưa ông lên ngang với “thơ tiên” Lý Bạch, nhà thơ số một đời Đường”.

(Sưu tầm)
__________________

Sự thật về cuộc đấu súng của Puskin

Cuộc đấu súng của Pushkin và Dantes diễn ra ngày 8 tháng 2 năm 1837. Hai ngày sau, 10 tháng 2, nhà thơ số một của nước Nga qua đời. Theo giả thuyết chính thức, Pushkin bị chết bởi một vết tử thương từ viên đạn súng lục của Dantes. Tất nhiên, nếu cuộc đấu súng diễn ra trong thời đại chúng ta thì nhà thơ có thể được cứu sống - các nhà y học nhiều lần khẳng định rằng vết thương của Pushkin không nghiêm trọng lắm, nhưng khoa học lúc bấy giờ chưa đủ trình độ để cứu chữa cho ông.

Gây ra nhiều tranh cãi hơn cả là nguyên nhân dẫn tới cuộc đấu súng bất hạnh. Nói một cách khác, ai là người có lỗi trong cái chết của Aleksandr Pushkin? Về vấn đề này lâu nay đã tồn tại rất nhiều giả thuyết, chứng cứ khác nhau, nhiều lời đồn đại và đàm tiếu, nhiều nhân chứng, từ các bác sĩ đến bạn bè của nhà thơ. Hơn nữa, sự thật, tất nhiên, ở mỗi người một khác.

Giả thuyết cổ điển được giảng dạy ở trường phổ thông như sau: một vài năm sau khi cưới cô vợ trẻ xinh đẹp Natalya Goncharova, Pushkin chạm trán với kẻ tình địch của mình George Dantes. Anh chàng người Pháp này ra sức ve vãn vợ của Pushkin, sau đó bị thách đấu súng và đã sát hại nhà thơ. Tuy nhiên, càng ngày các nhà nghiên cứu càng phát hiện ra nhiều chi tiết khác biệt so với những gì ban đầu chúng ta lầm tưởng.

Cuộc đấu súng thứ nhất của Pushkin và Dantes không thành vì nó được thách trước thềm đám cưới của Ekaterina Goncharova (chị gái của Natalya) và Dantes. Và cuộc đấu súng lần thứ hai do Pushkin thách đã trở thành định mệnh.

Ngoài rất nhiều những phỏng đoán khác nhau về mối quan hệ qua lại bên trong bộ ba này còn có một số giả thuyết đã được khẳng định bằng tư liệu: tất nhiên ở mức độ mà những người ngoài có thể phán xét về chúng.

Giả thuyết đầu tiên và thú vị nhất thuộc về bá tước Aleksandr Vasilyevich Trubetskiy, vốn là người không quen biết thân tình với Pushkin, nhưng hiểu ông rất rõ qua các cuộc gặp gỡ riêng trong xã hội thượng lưu Peterburg và qua mối quan hệ gần gũi của mình với Dantes. Câu chuyện được ghi lại của bá tước kể về một mối quan hệ hoàn toàn mới đối với tấn bi kịch này. Theo các hồi ức và chứng cứ mà Trubetskiy tiếp cận được thì Pushkin hoàn toàn không ghen Natalya với Dantes. Tình hình ở đây hơi khác thường - Pushkin yêu cô em gái của vợ, Alexandrine, một người không xinh đẹp như bà chị, nhưng lại cực kỳ thông minh. Nàng cũng đem lòng yêu nhà thơ khi ông còn chưa cưới Natalya, và hơn nữa, nàng nhớ thuộc lòng tất cả các tác phẩm của ông. Như Trubetskiy khẳng định, Pushkin đã đáp lại mối tình của Alexandrine.

Dantes thường hay đến chơi nhà Pushkin. Anh ta tán tỉnh Natalya như là tất cả những người đẹp khác, nhưng nói chung anh ta cũng không say đắm nàng một cách đặc biệt. Những bức thư do Liza, người hầu của Natalya, chuyển tới cũng không nói lên điều gì: trong thời chúng ta đó là chuyện bình thường. Pushkin biết rất rõ rằng Dantes không thực sự say đắm vợ mình, nhà thơ nói chung không ghen, nhưng như ông nói, ông rất ghét Dantes bởi lối cư xử hơi hỗn láo, ngôn ngữ khiếm nhã đối với các bà, bá tước Trubetskiy khẳng định.

Vâng, Pushkin có ác cảm với Dantes, nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở đó. Cuộc đấu súng trở thành hậu quả của một mối ghen tuông khác - với cô em gái Alexandrine: chẳng bao lâu sau lễ cưới Pushkin đi lại với Alexandrine và sống cùng nàng. Sự kiện này không còn gì phải nghi ngờ. Chính Alexandrine đã thú nhận điều đó. Bạn hãy nghĩ xem, trong hoàn cảnh đó liệu Pushkin còn có thể ghen vợ mình với Dantes. Nếu như Pushkin không thích những cuộc viếng thăm của Dantes, thì nói chung không phải vì Dantes tán tỉnh và pha trò với vợ ông, mà là vì khi đến chơi nhà Pushkin, Dantes gặp gỡ với Alexandrine.

Nguyên nhân chính của cuộc đấu súng là sự kiện Dantes cùng với vợ là Ekaterina sắp sửa rời nước Nga sau lễ cưới và Alexandrine cũng chuẩn bị đi cùng họ. Tất nhiên, vì câu chuyện tình giữa Pushkin và Alexandrine được giữ bí mật rất cẩn thận, nên mối quan hệ của Dantes với Natalya đã trở thành nguyên nhân chính thức.
Giả thuyết thứ hai thuộc về một hậu duệ của George Dantes, nam tước Loter de Gekkern Dantes. Trong bài trả lời phỏng vấn gần đây trên tờ Thanh niên Moskva ông đã đưa ra giả thuyết của mình dựa trên nhiều công trình nghiên cứu. Theo nam tước, Pushkin yêu Natalya, yêu một cách chân thành, ngưỡng mộ nàng, nhưng lại tỏ ra rất “gia trưởng”, ông không cho vợ thể hiện cá tính của mình. Loter de Gekkern đã đưa ra một bằng chứng là lá thư của nhà thơ gửi mẹ vợ của mình, bà Natalya Ivanovna Goncharova, trong đó ông viết: “Nghĩa vụ của vợ con là phục tùng những gì con cho phép”.

Vladimir Fridkin, tác giả cuốn sách “Ngành Pushkin học ở nước ngoài”, viết: “Khi cưới Natalya, Pushkin ý thức được rằng Natalya còn chưa yêu ông, và ông đã viết điều đó cho bà mẹ vợ. Nhưng vào năm 1831 ông muốn tu tỉnh và tin rằng có thể sống hạnh phúc với Natalya. Nàng chính là nguyên mẫu của nhân vật Tachyana Larina trong tiểu thuyết thơ “Evgeniy Onegin” – điềm đạm, thuỷ chung, kín đáo... Nhưng ta hãy nhớ lại xem tác phẩm này đã kết thúc như thế nào: là vợ của một viên tướng, nhưng linh hồn của Tachyana lại thuộc về một người đàn ông khác. Đối với Pushkin sự chung thuỷ về thể xác của nhân vật đối với người chồng hợp pháp trong câu chuyện này không phải là điều chủ yếu. Đối với các thi sĩ nói chung linh hồn bao giờ cũng quan trọng hơn...

Chính vì vậy, ngày 4 tháng 11 năm 1836, sau khi nhận được bức thư nặc danh về sự phản bội của vợ, Pushkin đã tra hỏi Natalya Nikolayevna và nàng đã chính thức thừa nhận có quan hệ với Dantes. Điều quan trọng không phải là sự phản bội về thể xác, mà là tinh thần. Ngôi nhà của thi sĩ giây phút này sụp đổ như làm bằng các tông, Vladimir Fridkin viết tiếp. - Pushkin đánh mất ý nghĩa cuộc sống của mình. Ông không muốn giết chết người khác chỉ vì hắn được vợ mình yêu. Nhưng có thể tìm cái chết cho chính bản thân mình bằng chuyện đó. Rất có thể đấy là nguyên nhân của những hành động rồ dại của Pushkin trong những tháng cuối cùng của cuộc đời. Trong hồi ký của mình Sologub viết: “Tất cả mọi người đều ngăn cản Pushkin. Chỉ một mình ông không muốn điều đó”. Pavlishchev, con rể của Pushkin cũng viết: “Nhà thơ tìm đến cái chết, vì ông sẽ rất bất hạnh, nếu như còn sống...

Tuy nhiên giả thuyết này không được bà Galina Sedova, người phụ trách nhà lưu niệm Pushkin, tác giả cuốn sách vừa hoàn thành về những tháng cuối đời của nhà thơ, chia sẻ. Theo bà, giả thuyết cho rằng Pushkin muốn kết thúc cuộc đời là không chính xác: “Ông muốn sống, làm việc và hoàn toàn không có ý định chết. Ví dụ, trong ngày đi đấu súng ông còn yêu cầu chuyển các vở kịch cho tờ tạp chí của mình”.
Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn nhận xét rằng đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện này là người làm chứng của George Dantes, hầu tước Olivie d'Arshiak: ông ta luôn tìm cách hoà giải các đối thủ. Ông ta đã thực hiện thành công điều đó vào tháng 11 năm 1836, khi Pushkin lần đầu tiên thách đấu với Dantes. Chính vì sợ d'Arshiak lại thuyết phục được họ, đêm trước cuộc đấu súng bất hạnh Pushkin tìm mọi các tránh gặp ông ta.

Qua các hồi ức của những người đương thời, Sedova nhận xét rằng trước ngày xảy ra cuộc đấu súng Pushkin viếng thăm rất nhiều bạn bè. Thậm chí ông còn đến gặp cả nhà văn Fedorov và trò chuyện gần hai giờ đồng hồ, mặc dù Fedorov là người mà Pushkin luôn luôn coi thường. Từ đó có thể kết luận rằng Pushkin muốn kéo dài thời gian.

Nhiệm vụ thứ hai mà nhà thơ đã hoàn thành là ý định bảo vệ người làm chứng của mình Konstantin Danzas khỏi bị truy tố vì đã không báo cáo về cuộc đấu súng đang được chuẩn bị.

Sedova cho rằng Pushkin đã chọn trước cho mình người làm chứng là Danzas và thoả thuận cùng với ông ta về điều đó. Tuy nhiên về sau nhà thơ đã làm tất cả để chứng minh rằng thoả thuận đó xuất hiện ngay trước cuộc đấu súng.

Pushkin đã giới thiệu người làm chứng của mình vào phút chót. Ông đã giải quyết hai vấn đề - bảo vệ cho Danzas khỏi bị truy tố và loại trừ khả năng bị d'Arshiak hoà giải. Không một ai để ý tới những chi tiết tế nhị này.

Về sau Danzas bị xét xử vì ông là người làm chứng cho Pushkin và không báo cáo về cuộc đấu súng. Các lời khai của ông ta cho thấy rằng vào ngày xảy ra cuộc đấu súng ông đã gặp Pushkin bên chiếc cầu ở Vườn mùa hạ. Họ lặng lẽ đi tới đại sứ quán Pháp và gặp d'Arshiak. Chỉ ở đây Pushkin mới kể cho ông ta hết mọi việc, họ đưa ra các điều kiện của cuộc đấu súng, rồi các thành viên đi đến sông Đen. Và kết quả điều tra đã chứng minh rằng Danzas quả thật là người làm chứng một cách ngẫu nhiên, vào đúng phút chót, tình tiết này đã làm giảm tội cho ông ta.

Tuy nhiên, trên đây vẫn là những giả thuyết về cuộc đấu súng của Pushkin. Trong tương lai các nhà lịch sử và nhà nghiên cứu sẽ còn phải đưa ra các giả thuyết khác trên cơ sở những tư liệu có thể sẽ được tìm thấy nữa - chỉ một điều chúng ta có thể nói chắc chắn: ngày 10 tháng 2 năm 1837 nước Nga đã vĩnh viễn mất đi một Thi sĩ Vĩ đại.

(Sưu tầm)
__________________

Ngàn dâu

 
"Ngàn dâu" do chữ "Mạch thượng tang".

Ở Trung Hoa ngày xưa, nơi thôn quê, người ta thường trồng dâu gần bên đường.

"Mạch thượng tang" cũng là tên khúc hát cổ nhạc phủ của nàng La Phu nước Triệu thời Xuân Thu.

Trong "Chinh phụ ngâm", nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, đoạn tả tình cảm của nàng chinh phụ lúc tiễn chồng ra đi, có câu:



Tương cố bất tương kiến,

Thanh thanh mạch thượng tang.

Mạch thượng tang, mạch thượng tang,

Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường.



Bà Đoàn Thị Điểm dịch nôm:



Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.



Nguyên nàng La Phu là một thiếu phụ sắc nước hương trời, văn chương âm nhạc nổi tiếng. Chồng nàng là một chiến sĩ hải hồ. Cả hai vẫn yêu nhau tha thiết. Nhưng rồi "trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương" nên chàng xách kiếm sang Tần, ước hẹn vợ một thời gian trở về.

Nàng La Phu ở quê nhà, ngày ngày hái dâu chăn tằm, dệt vải. Những lúc đêm dài canh vắng, nàng lẻ loi, thui thủi bóng mình nên thường sáng tạo những bài thơ điệu

cổ nhạc phủ để tỏ nỗi lòng thương nhớ người xa vắng.

Một hôm, nàng đương hái dâu bên vệ đường, bất chợt Triệu vương du ngoạn sang ngang, nhìn thấy người thiếu phụ thô quê nhưng sắc đẹp mỹ miều lấy làm động lòng. Hỏi người biết nàng là kẻ tài hoa, văn hay đàn giỏi, Triệu vương càng say mê hơn nữa. Về triều, Triệu vương cho người đến đòi La Phu tới. Nhà vua dọn tiệc khoản đãi ân cần, mong được cùng giai nhân vầy duyên ân ái.

Nàng buồn rầu ứa lệ nhưng còn vị nể chúa tôi nên nàng ngồi vào tiệc, đoạn cầm đàn lên gẩy, hát khúc"Mạch thượng tang" để tỏ ý mình. Triệu vương tuy hiếu sắc những thông minh. Nghe qua bài hát, bản đàn biết thâm ý của nàng là bao giờ cũng liều chết để bảo vệ trinh tiết cùng chồng, giàu sang, uy quyền và bạo lựckhông làm lay chuyển lòng người trinh phụ. Triệu vương vừa hối hận vừa thẹn thuồng nên truyền cho La Phu về, bỏ mộng luyến ái giai nhân.

Tác giả mượn điển tích "Mạch thượng tang" (ngàn dâu) ngoài cái ý tả cảnh còn có ý tả mối tình chung thủy giữa trinh phụ đối với chinh phu một cách tế nhị.

Khiêng cáng cưới vợ con quan

Hứa Tam Tỉnh,ông học rất giỏi, tuy không đỗ đạt đến trạng nguyên, nhưng nhân dân vẫn thường gọi ông là Trạng Ngọt.
Hứa Tam Tỉnh, người làng Vọng Nguyệt - tục gọi là làng Ngọt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, làm quan đến Thượng thư, tước đến Đông giáo hầu, có sang sứ nhà Minh vào khoảng đời nhà Mạc (1527 - 1529).
Ông học rất giỏi, tuy không đỗ đạt đến trạng nguyên, nhưng nhân dân vẫn thường gọi ông là Trạng Ngọt (trạng nguyên làng Vọng Nguyệt). Khi còn bé nhà nghèo lắm. Một hôm ra đường gặp võng quan trấn thủ Kinh Bắc trẩy qua, sau võng quan lại là võng tiểu thư. Thoáng thấy tiểu thư nhan sắc diễm lệ, Trạng Ngọt mê lắm mới nằn nì phu cáng cho mình khiêng thay để được ngắm nghía cho thỏa thích. 
Về nhà Trạng Ngọt đòi mẹ phải đến hỏi tiểu thư ấy làm vợ. Bà mẹ sợ không dám đi, sau vì thương con nên cũng đành liều.
Tới dinh quan, bà bẩm hết sự tình và nói rõ nỗi gàn dở của con. Quan nghe xong, cười bảo: "Đã vậy, bà về gọi nó đến đây, ta xem học hành ra sao, nếu quả có tài, ra sẽ gả tiểu thư cho!"
Bà mẹ về bảo con đến hầu quan ngay. Quan thấy Hứa không có gì là xuất sắc, người thì đen mà lùn, duy chỉ có đôi mắt là khác thường. Tuy nhiên hỏi đến sách vở thì Trạng đối đáp rất trôi chảy, vì thế quan cho lưu lại ở trong dinh ăn học, hẹn hễ thi đỗ thì nhất định sẽ gả tiểu thư cho.
Năm sau, gặp khoa thi hương, Hứa đỗ thủ khoa. Quan liền y hẹn cho làm lễ thành thân.
Nhưng tới khi làm lễ hợp cẩn, thì tiểu thư vì đã biết Hứa là anh chàng khiêng cáng trước, lại thêm người đen đủi xấu xí nên chưa ưng lắm, sai con hầu cầm thiếp ra bảo rằng: "Cô tôi có một vế câu đối, nếu quan tân khoa đối được thì hãy xin làm lễ động phòng."
Câu ấy như sau:
"Ốc lậu nguyệt xuyên, hình như kê noãn, tam tam tứ tứ." 

Nghĩa là:

Nhà thủng bóng trăng dọi xuống, lốm đốm từng khoanh như trứng gà.

Hứa Tam Tỉnh nghĩ mãi không sao đối được, vừa bực mình vừa thẹn công dùi mài bấy lâu, liền bỏ ra bờ sông định tự tử cho khỏi nhục. Khi đến bờ sông, tình cờ trông thấy bóng trăng rãi trên mặt nước muôn ngàn lớp sóng bạc dập dềnh, bỗng nảy tứ thơ, quay ngay về phòng đối rằng: 

“Giang trường phong lộng, thế tự long lân, điệp điệp trùng trùng.”
Nghĩa là: 
           Sông dài gió lộng, trùng trùng điệp điệp như vẩy rồng.
Tiểu thư xem xong chịu là hay, cho mời Hứa vào làm lễ hợp cẩn.
Hôm sau tiểu thư lại đem câu đối ấy trình cha; quan trấn thủ bảo cứ khẩu khí này thì anh ta còn có thể đỗ trạng nguyên. Về sau Hứa đỗ trạng nguyên thật, chỉ vì xấu xí một tí mà phải đánh xuống hàng thứ hai (bảng nhãn) và chịu đứng sau Trạng Me, một người kém tài hơn Hứa.
 (ST)